Chương 1: Hoạt động yêu nước của người Việt Nam ở Pháp từ năm 1912 đến năm 1925. (30 trang) Chương 2: Hoạt động yêu nước của người Việt Nam ở Pháp từ năm 1925 đến năm 1940. (25 trang) 10 NỘI DUNG CHƢƠNG 1. HOẠT ĐỘNG YÊU NƢỚC CỦA NGƢỜI VIỆT NAM Ở PHÁP (1912 - 1925) 1.
Sự hình thành cộng đồng ngƣời Việt Nam ở Pháp Từ đầu thế kỷ XVI, với sự phát triển nhanh chóng của của cuộc phát kiến địa lý và sự vươn lên mạnh mẽ của các nước tư bản phương Tây trong quá trình chinh phục tìm kiếm nguồn nguyên liệu và thị trường mới nhằm đẩy nhanh quá trình phát triển và lợi nhuận cao, chính điều này đã làm cho người phương Tây ngày càng xuất hiện đông đảo trên đất nước Việt Nam. Trên những con tàu cập bến, phần lớn chủ yếu là thương nhân đến để buôn bán và các nhà giáo sĩ đến để truyền đạo. Trong tất cả các nước phương Tây đến giao thương, trao đổi, buôn bán với Việt Nam lúc bấy giờ, có thể nói nước Pháp là đất nước có nhiều mối quan hệ nhất. Mối quan hệ đầu tiên và có lẽ lớn nhất đó chính là việc hai nhà nước kí kết với nhau Hiệp ước Versailles năm 1787, được kí giữa hai người đại diện là Montmorin của Pháp và Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) đại diện cho chính quyền của Nguyễn Ánh.
Và cũng trong sự kiện đi ký kết hiệp ước, Pigneau de Béhaine đã dẫn theo Hoàng tử Nguyễn Phúc Cảnh, sự kiện này có thể cho chúng ta biết rằng chính Hoàng tử Nguyễn Phúc Cảnh là một trong những người Việt Nam đầu tiên đặt chân lên nước Pháp xa xôi. Bắt đầu từ khi đó đã mở ra một quá trình du nhập của người Việt Nam qua Pháp và người Pháp sang Việt Nam. Đến đầu thế kỉ XX, số lượng người Việt Nam ở Pháp trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 - 1914) chiếm số lượng không nhiều. Trong công trình “Nguyễn Ái Quốc tại Paris (1917 - 1923)” của Thu Trang có đề cập đến số lượng người Việt Nam ở Pháp tính đến năm 1910 chỉ có khoảng độ vài chục người chủ yếu là sinh viên, học sinh.
Duy chỉ có Khánh Ký là một nhà buôn bán về máy ảnh. Số lượng người Việt Nam làm cho những gia đình Pháp như bồi bếp, tài xế, vú em, khâu đầm (thợ may phụ nữ giúp việc trong nhà) theo chủ về Pháp nghỉ hè hoặc ở lại luôn cũng nằm trong số lượng người Việt ít ỏi thời ấy. Như vậy có thể thấy, trong số 11 lượng những người Việt Nam có mặt đầu tiên ở nước Pháp thời kì đầu thì thành phần sinh viên học sinh chiếm số lượng khá đông đảo. Tác giả Lê Thị Kinh cũng cho rằng, đến năm 1911 khi Phan Châu Trinh mới sang Pháp [12, tr.
13] số lượng người Việt Nam ở Pháp rất ít. Tác giả cho rằng số lượng người Việt Nam ở Pháp vào thời gian này chỉ khoảng 100 người bao gồm nhiều thành phần như: sinh viên, học sinh khoảng 50 người, thành phần học nghề và lao động tay chân khoảng độ vài chục người, số người Việt theo chủ về Pháp khoảng vài chục. Ngoài ra, đầu thế kỷ XX còn có thành phần bao gồm những người công nhân, thuỷ thủ làm việc trên những con tàu qua lại giữa các thuộc địa với nước Pháp. Chúng ta có thể thấy, trong tổng số lượng trên thì học sinh, sinh viên chiếm số lượng đông đảo hơn cả, từ đây cũng có thể thấy được việc đưa những sinh viên này sang Pháp là để nhằm mục đích chính là “Pháp hoá tối đa”, tạo ra những người tay sai, trung thành với chính quyền Pháp.
Năm 1914, khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất nổ ra - Toàn quyền Đông Dương đã thực hiện hàng loạt các biện pháp nhằm mục đích thực hiện nghĩa vụ tham chiến của toàn thể nhân dân Đông Dương. Nhiệm vụ cụ thể được thực dân Pháp thực hiện đó chính là muốn nhân dân Đông Dương “phải cung cấp cho chính quốc đến mức tối đa nhân lực, vật lực và tài lực, đồng thời một mặt vẫn phải duy trì trật tự an ninh ở thuộc địa, mặt khác vẫn giữ cho guồng máy chính trị và kinh tế chạy đều” [7, tr. Song song với việc vơ véc về tiền của, chính quyền thực dân Pháp còn thực hiện một số biện pháp hết sức thâm độc đó chính là bắt, cưỡng ép những người nhân dân Đông Dương mà đa số là người Việt Nam đưa sang Pháp để làm lính, làm bia đỡ đạn cho binh lính Pháp trên chiến trường trong cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất. Thực dân Pháp bằng nhiều cách dụ dỗ, lừa đảo như “giúp mẫu quốc dẹp tan Đức tặc” [27, tr.
492] hoặc bằng những lời lẽ ngon ngọt hứa hẹn nếu gia đình có người sang Pháp thì gia đình đó sẽ được nhận trợ cấp hàng tháng, đồng thời nếu như hi sinh ở chiến trường thì sẽ được thờ cúng ở đình làng và gia đình họ sẽ tiếp tục được nhân trợ cấp hàng tháng từ phía chính quyền thực dân Pháp. Ở nước Pháp, chính 12 quyền còn mua chuộc những thanh niên viết thư về gia đình tung hô sự sung sướng, an nhàn, đầy đủ ở nước Pháp kèm với đó là những hình ảnh trong bộ quân phục. Nhưng đó vẫn chỉ là những chiêu trò phụ, biện pháp chính hiệu quả nhất ở đây vẫn là cưỡng bức đi lính dưới danh nghĩa quân tình nguyện. Những thanh niên người Việt bị bắt đưa qua Pháp làm lính được chúng chia làm hai hạng là lính chiến đấu (lính tập) và lính thợ.
Thành phần lính chiến đấu ngay sau khi đến nước Pháp ngay lập tức được đưa ra chiến trường để làm bia đỡ đạn hoặc vào làm lính công binh. Bởi vì là lính của thuộc địa nên chính quyền Pháp đào tạo rất sơ sài, hầu như thời gian tập luyện để thích nghi với khí hậu và chiến trường rất ít, phần lớn chỉ tập trung huấn luyện một cách qua loa, không được đào tạo bài bản, bởi vì lẽ đó nên binh lính người Việt ra chiến trường rất bỡ ngỡ dẫn đến tình trạng lính chết trận khá nhiều. Bên cạnh đó, số lượng binh lính chết vì bệnh tật, điều kiện khí hậu khắc nghiệt cũng không ít. Đơn cử như Đại đội lính khố đỏ số 7 tham gia chiến đấu ở mặt trận Pháp đã bị chết hơn một nửa.
Ngoài bộ phận lính chiến đấu còn có một bộ phận lính thợ, mục đích Pháp đưa người Việt sang làm lính thợ nhằm mục đích thay thế cho nhân công Pháp đã bị động viên. Bộ phận lính thợ này phần lớn được điều động vào làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp, các công trường với mục đích phục vụ cho cuộc chiến tranh. Từ những người nông dân chân chất, thật thà, những người Việt Nam họ phải đột ngột bỏ lại vợ con, bố mẹ, bỏ lại mảnh ruộng để đến với nước Pháp với một mong muốn có một cơ hội đổi đời, tuy nhiên khi đến đây họ phải đối mặt với bao khó khăn và đã phải bỏ mạng nơi xứ người với nhiều nguyên nhân khác nhau. Cho đến hiện nay, khi bàn về số lượng người Việt bị bắt đưa sang Pháp trong khoảng thời gian diến ra chiến tranh thế giới thứ nhất vẫn chưa thống nhất, tuỳ theo mỗi tài liệu, con số mỗi nơi mỗi khác.
Và điều nan giải hơn cả đó chính là Pháp đã gọi chung là người Đông Dương (Indochinois) cho nên việc phân biệt rõ ràng có bao nhiêu người Việt Nam trong số những người ấy cho đến nay vẫn chưa được nêu rõ. Các công trình nghiên cứu của Viện Sử học đã đưa ra con số người Việt Nam bị đưa sang Pháp trong 4 năm chiến tranh diễn ra là 97.903 người, trong đó bao gồm 48.922 lính chiến đấu và 48.981 lính thợ [25, tr. Tổng số lượng trên đã bao 13 gồm tất cả những người lính từ khắp các thuộc địa ở Đông Dương như Lào, Campuchia và một số ít là người Trung Quốc. Trong tờ báo Le Matin xuất bản tại Paris ngày 10/5/1918, có một bài báo tựa đề “Đông Dương và chiến tranh (L’Indochine et la guerre)” cũng đã viết rằng: “Người bản xứ, về phía họ đã giúp và đóng góp quý báu cho nước Pháp nhiều thứ.
Mặc dù có sự khó khăn trong việc mộ binh và chuyên chở, gần 100.000 người An Nam và Cao Miên đã đến Pháp. Số lính này đã đến kịp thời nơi đội quân ta đang bị bất động, họ đã hoà chung vào số quân lính của ta và đã chiến đấu dũng cảm, chứng tỏ có giá trị về quân sự”[44]. Trong một báo cáo tổng quát về sự kiểm tra số lính khố đỏ và lính thợ Đông Dương tại Pháp do Guesde ký tên có đoạn: “Vào tháng 11 năm 1917, khi tôi nhận chức giám đốc tổng kiểm tra người Đông Dương thì con số lính có 45.000, con số lính thợ cũng tương đương, tổng cộng gần 90. Con số này không thay đổi mấy khi kí Hiệp ước đình chiến vào tháng 11 năm 1918”[12, tr.
Qua vài tư liệu trên, chúng ta thấy con số người Việt Nam trong tổng số người Đông Dương là khó xác định vì có cả người Cao Miên và Trung Quốc. Tuy nhiên ở đây chúng ta có thể tin chắc một điều đó là số lượng người Việt bị bắt sang pháp con số lên đến hàng vạn người, đông nhất trong các thuộc địa ở Đông Dương. Cũng theo nhà báo Pierre Daum, từ khi cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra, chính phủ Pháp đã có những quyết định về việc điều động gần 200.000 lao động từ các nước thuộc địa, trong số ấy có khoảng 49.000 người đến từ Đông Dương [36, tr. Theo Lệnh tuyển lính bản xứ tại Liên bang Đông Dương thuộc Pháp được ban hành vào tháng 11/1915, Pháp cũng đã mở cuộc tổng động viên để bổ sung quân đội.
Sang tháng 1/1916, triều đình Huế cũng có dụ ban thưởng 80 đồng bạc Đông Dương cho những ai nhập ngũ. Đến năm 1918 khi có lệnh đình chiến thì đã có 48.922 binh lính gốc Việt Nam tại châu Âu và Bắc Phi; có 51.000 thợ1 gốc Việt trong các công xưởng của nước Pháp, trong số đó có 1.548 người tử vong [40, tr. Trong bài báo “Đông Dương và Triều Tiên” đăng trên báo Le Populaire ngày 4/9/1919, Nguyễn Ái Quốc lúc đó đang ở Pháp cũng đã cho biết tình hình lính chiến người Việt Nam tại Pháp.