Tổng quan nghiên cứu
Theo số liệu thống kê quốc gia, Việt Nam có hơn 25% dân số đang cần trợ giúp xã hội thường xuyên hoặc đột xuất, bao gồm khoảng 9,4 triệu người cao tuổi, 7,2 triệu người khuyết tật, cùng 10% hộ nghèo và 5% hộ cận nghèo. Trong bối cảnh nguồn ngân sách nhà nước cần sự chung tay của toàn xã hội, việc huy động các nguồn lực tôn giáo tham gia vào công tác an sinh xã hội trở thành một chủ trương quan trọng, vừa mang tính cấp bách vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài.
Nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng, mô hình tổ chức và hiệu quả của các hoạt động từ thiện xã hội do Phật giáo và Công giáo thực hiện tại tỉnh Kiên Giang. Mục tiêu cụ thể là làm rõ những thành tựu nổi bật, nhận diện các rào cản hạn chế, đồng thời dự báo xu hướng phát triển và đề xuất các nhóm giải pháp khoa học nhằm nâng cao năng lực đóng góp của hai tôn giáo này vào sự phát triển chung.
Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ 15 huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, với trục thời gian khảo sát chuyên sâu từ năm 2010 đến năm 2018, có sự đối sánh dữ liệu từ năm 2006 và định hướng đến năm 2020.
Về mặt ý nghĩa thực tiễn, công trình khẳng định vai trò trụ cột của Phật giáo và Công giáo trong mạng lưới an sinh địa phương. Hai tôn giáo này đã đóng góp từ 50% đến gấp 2 lần tổng nguồn lực từ thiện của toàn bộ các tôn giáo trên địa bàn tỉnh, tài trợ trên 65% tổng số nhà đại đoàn kết và chiếm 27,72% giá trị xây dựng hạ tầng giao thông nông thôn, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân và ổn định đời sống nhân dân.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng lý thuyết chức năng hỗ trợ xã hội của tôn giáo và lý thuyết nguồn vốn xã hội làm nền tảng tiếp cận. Dưới góc độ xã hội học và tôn giáo học, tôn giáo không chỉ đáp ứng nhu cầu tâm linh mà còn là nguồn vốn xã hội đặc biệt, cung cấp mạng lưới tương trợ cộng đồng và các nguồn lực vật chất quý báu.
Về phía Phật giáo, nghiên cứu dựa trên triết lý Lục độ ba-la-mật lấy hạnh Bố thí làm đầu, kết hợp tư tưởng Tứ vô lượng tâm gồm Từ, Bi, Hỷ, Xả và nguyên tắc Lợi hòa đồng quân để lý giải động lực nhập thế cứu khổ của tăng ni, phật tử.
Về phía Công giáo, nền tảng lý luận bắt nguồn từ Thần học Đức ái Caritas và Agapê với tinh thần mến Chúa yêu người, kết hợp đường hướng mục vụ trong Thư chung năm 1980 và Thư chung năm 2001 của Hội đồng Giám mục Việt Nam: "Sống phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào".
Hệ thống khái niệm nòng cốt được làm sáng tỏ gồm: Từ thiện xã hội, Hoạt động từ thiện xã hội, Xã hội hóa công tác xã hội, Tinh thần nhập thế tôn giáo và Vốn xã hội tôn giáo.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập toàn diện từ các báo cáo định kỳ của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Kiên Giang, Ban Tôn giáo, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, cùng hồ sơ lưu trữ của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Kiên Giang và Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam tỉnh.
Cỡ mẫu khảo sát bao quát 202 cơ sở tự viện Phật giáo đại diện cho 411.194 tín đồ và 65 giáo xứ, 38 giáo họ đại diện cho 112.411 đồng bào Công giáo trên địa bàn 15 huyện, thành phố. Phương pháp chọn mẫu kết hợp giữa chọn mẫu phân tầng theo địa bàn hành chính và chọn mẫu thuận tiện theo từng hệ phái Phật giáo Bắc tông, Nam tông Khmer, Khất sĩ và 4 giáo hạt Công giáo Rạch Giá, Tân Hiệp, Tân Thạnh, Hà Tiên.
Phương pháp phân tích kết hợp giữa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phân tích định lượng thống kê mô tả và phân tích định tính chuyên sâu. Lý do lựa chọn hệ phương pháp này là nhằm vừa lượng hóa chính xác quy mô tài chính, vừa đánh giá thấu đáo chiều sâu chuyển biến nhận thức, bản chất hành đạo và giá trị nhân văn của từng tôn giáo trong suốt giai đoạn 2010 - 2018.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, Phật giáo tỉnh Kiên Giang thể hiện vai trò chủ lực với 202 cơ sở tự viện và 411.194 tín đồ, chiếm 22,99% dân số toàn tỉnh và chiếm 71,63% tổng số tín đồ các tôn giáo. Tỷ lệ tự viện tham gia hoạt động từ thiện xã hội đạt mức từ 80% đến 100%. Nguồn lực Phật giáo đóng góp chiếm trên 65% tổng số nhà tình thương, nhà đại đoàn kết toàn tỉnh; chiếm trên 48% tổng giá trị cứu trợ thiên tai, giúp đỡ người nghèo; và đóng góp 27,72% vào việc xây dựng cầu, đường giao thông nông thôn.
Thứ hai, Công giáo tỉnh Kiên Giang với 112.411 tín đồ, chiếm 6,27% dân số toàn tỉnh, phân bổ tại 65 giáo xứ và 38 giáo họ thuộc 4 giáo hạt, đã phát triển hệ thống bác ái xã hội quy củ. Điểm nhấn nổi bật là 100% các giáo xứ tích cực tham gia mô hình Giáo xứ bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, hỗ trợ người nghèo vay vốn sản xuất, khám chữa bệnh miễn phí và mở rộng các lớp học tình thương, trường mầm non phục vụ đại chúng.
Thứ ba, quy mô tài chính của các chương trình an sinh chuyên đề tăng trưởng vượt bậc. Điển hình là chương trình Tết Trung thu do Ban Trị sự Phật giáo tỉnh phối hợp tổ chức tại hơn 100 ngôi chùa đã trao hàng trăm ngàn phần quà với tổng kinh phí trên 14 tỷ đồng, riêng năm 2019 đạt gần 22 tỷ đồng. Chương trình Tiếp sức mùa thi được duy trì 9 năm liên tục hỗ trợ hàng vạn thí sinh. Đồng thời, nhà nước và các nguồn lực xã hội đã hỗ trợ gần 42 tỷ đồng cùng 51.504 cuốn sách Pali để trùng tu tự viện và phát triển giáo dục Phật giáo Nam tông Khmer.
Thảo luận kết quả
Thành tựu ấn tượng trên xuất phát từ sự hòa quyện giữa truyền thống tương thân tương ái của dân tộc với giáo lý từ bi Phật giáo và bác ái Công giáo, kết hợp cùng nét tính cách hào sảng, trọng nghĩa tình của người dân phương Nam. Bên cạnh đó, các chủ trương của Đảng như Nghị quyết số 25-NQ/TW, Nghị quyết số 15-NQ/TW và hành lang pháp lý từ Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã tạo cơ chế mở đường cho các tôn giáo phát huy tối đa tinh thần nhập thế.
Trong phân tích dữ liệu thực nghiệm, các chỉ số tài chính và hoạt động được tổng hợp trực quan qua hệ thống bảng biểu phân loại theo 15 đơn vị hành chính, cùng biểu đồ cột thể hiện sự tăng trưởng đóng góp ngân sách qua các mốc thời gian 2010, 2015 và 2018. Biểu đồ tròn so sánh cơ cấu ngành nghề từ thiện cho thấy sự tập trung cao độ vào nhà ở và cứu trợ khẩn cấp tại các địa bàn trọng điểm như Rạch Giá, Tân Hiệp và Hòn Đất.
So với bức tranh chung của các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, hoạt động từ thiện tại Kiên Giang mang tính toàn diện và đa dạng sắc tộc hơn nhờ sự hiện diện sâu rộng của đồng bào Khmer và các họ đạo lâu đời. Dù vậy, hoạt động này vẫn bộc lộ hạn chế: tính chuyên nghiệp trong công tác xã hội chưa cao, chủ yếu mang tính hỗ trợ đột xuất thụ động, quản lý tài chính đôi nơi còn phân tán và cần chủ động ngăn ngừa nguy cơ các đối tượng xấu lợi dụng danh nghĩa từ thiện để truyền đạo trái phép hoặc chống phá an ninh trật tự.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế quản lý và nâng cao tính chuyên nghiệp: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp cùng Ban Tôn giáo tỉnh Kiên Giang xây dựng quy chế phối hợp liên ngành, tổ chức định kỳ các lớp tập huấn kỹ năng công tác xã hội chuyên nghiệp cho 500 lượt chức sắc, chức việc và nhà tu hành trực tiếp điều hành cơ sở từ thiện giai đoạn 2021 - 2025.
Thứ hai, chuyển đổi mô hình từ thiện sang phát triển sinh kế bền vững: Các tổ chức tôn giáo cần chuyển dịch trọng tâm từ cứu trợ khẩn cấp thụ động sang đào tạo nghề, hỗ trợ vốn vay không lãi suất và chuyển giao mô hình sinh kế nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu, phấn đấu nâng tỷ trọng các dự án tạo sinh kế lên 35% tổng ngân sách từ thiện hàng năm từ nay đến năm 2025.
Thứ ba, minh bạch hóa tài chính và chuyển đổi số quy trình quản lý: Ban Trị sự Phật giáo và Ủy ban Bác ái Caritas cấp huyện cần thiết lập phần mềm cơ sở dữ liệu số dùng chung, quản lý minh bạch 100% các nguồn tiền công đức và tài trợ thiện nguyện, công khai báo cáo định kỳ hàng quý nhằm đảm bảo dòng tiền cứu trợ đến đúng đối tượng yếu thế.
Thứ tư, tăng cường kiểm tra, giám sát an ninh xã hội: Chính quyền các cấp tại 15 huyện, thành phố cần chủ động hướng dẫn, theo dõi chặt chẽ việc tiếp nhận các nguồn tài trợ từ tổ chức, cá nhân nước ngoài vào cơ sở tôn giáo, ngăn chặn dứt điểm tình trạng lợi dụng hoạt động thiện nguyện để trục lợi, tuyên truyền tà đạo hoặc gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và ban ngành đoàn thể: Ban Tôn giáo, Sở Nội vụ, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Kiên Giang và các tỉnh Nam Bộ có thể sử dụng số liệu làm căn cứ hoạch định chính sách xã hội hóa an sinh xã hội, xây dựng cơ chế phối hợp tôn giáo hiệu quả.
Nhóm chức sắc lãnh đạo và ban quản trị tôn giáo: Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo và Hội đồng Mục vụ Giáo phận, Ủy ban Bác ái Caritas có thể dùng công trình như cẩm nang quản trị thực tiễn để nâng cao tính chuyên nghiệp, tổ chức bộ máy thiện nguyện và tối ưu hóa nguồn lực đóng góp của tín đồ.
Nhóm giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên: Các nhà nghiên cứu chuyên ngành Tôn giáo học, Xã hội học, Triết học và Công tác xã hội có thêm nguồn dữ liệu thực chứng phong phú phục vụ công tác giảng dạy, viết chuyên đề và nghiên cứu so sánh về vai trò xã hội của tôn giáo tại Việt Nam.
Nhóm các tổ chức phi chính phủ, quỹ từ thiện và doanh nghiệp: Các tổ chức xã hội và nhà hảo tâm có thể tham khảo mạng lưới cơ sở tôn giáo tại 15 huyện thị của Kiên Giang để kết nối tài trợ, triển khai các dự án nước sạch, y tế học đường và nhà ở nhân ái đúng địa chỉ và đạt hiệu quả xã hội cao nhất.
Câu hỏi thường gặp
Hoạt động từ thiện của Phật giáo Kiên Giang chiếm tỷ trọng như thế nào trong toàn tỉnh?
Phật giáo Kiên Giang giữ vai trò nòng cốt, đóng góp từ 50% đến gấp 2 lần tổng nguồn lực từ thiện của tất cả các tôn giáo trong tỉnh. Với 202 cơ sở tự viện và 411.194 tín đồ chiếm 22,99% dân số, Phật giáo đã tài trợ trên 65% tổng số nhà tình thương và hơn 48% nguồn lực cứu trợ đồng bào nghèo.
Đâu là điểm đặc sắc trong hoạt động bác ái xã hội của Công giáo Kiên Giang?
Công giáo Kiên Giang nổi bật với mạng lưới chăm sóc y tế, giáo dục mầm non, nước sạch sinh hoạt và bảo vệ môi trường. Toàn bộ 65 giáo xứ thuộc 4 giáo hạt đã đồng loạt triển khai mô hình Giáo xứ bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, xây hố xử lý chất thải sinh học và phủ xanh khuôn viên cộng đồng.
Chương trình an sinh xã hội tiêu biểu nào của tôn giáo tại Kiên Giang đạt quy mô lớn nhất?
Chương trình Vui Tết Trung thu và Tiếp sức mùa thi của Phật giáo là hai mô hình có sức lan tỏa lớn nhất. Riêng hoạt động Trung thu tại hơn 100 ngôi chùa đã trao quà trị giá trên 14 tỷ đồng, năm 2019 đạt gần 22 tỷ đồng, cùng chương trình Tiếp sức mùa thi tổ chức suốt 9 năm liền cho hàng vạn sĩ tử.
Hành lang pháp lý hiện hành quy định việc tôn giáo làm từ thiện xã hội ra sao?
Hoạt động này được định hướng bởi Nghị quyết số 25-NQ/TW của Đảng và luật hóa tại Chương 5 của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, khẳng định quyền bình đẳng của các tổ chức tôn giáo khi tham gia xã hội hóa các lĩnh vực giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội và từ thiện nhân đạo.
Đâu là thách thức lớn nhất đối với hoạt động từ thiện tôn giáo tại Kiên Giang hiện nay?
Thách thức lớn nhất là tính tự phát, thiếu kỹ năng nghiệp vụ công tác xã hội chuyên sâu của đội ngũ tình nguyện viên tôn giáo. Bên cạnh đó, việc quản lý tài chính chưa đồng bộ và nguy cơ bị các đối tượng xấu lợi dụng danh nghĩa từ thiện để truyền đạo trái phép cũng là vấn đề cần quản lý chặt chẽ.
Kết luận
- Phật giáo và Công giáo tại Kiên Giang khẳng định vai trò là nguồn vốn xã hội vững chắc, đóng góp hàng chục tỷ đồng mỗi năm cho sự nghiệp giảm nghèo và an sinh xã hội.
- Tỷ lệ tham gia thiện nguyện của các tự viện và giáo xứ đạt mức ấn tượng từ 80% đến 100%, tạo dựng mạng lưới an sinh phủ rộng khắp 15 huyện, thành phố.
- Luận văn hệ thống hóa sâu sắc lý luận Tôn giáo học, làm sáng tỏ sự tương đồng giữa giá trị nhân đạo truyền thống với giáo lý nhập thế vì hạnh phúc cộng đồng.
- Đề xuất khung 4 nhóm giải pháp chiến lược giúp chuyển đổi phương thức từ thiện từ cứu trợ bị động sang trao quyền sinh kế bền vững và chuyển đổi số quản trị.
- Kế hoạch giai đoạn 2021 - 2025 cần tập trung chuẩn hóa kỹ năng công tác xã hội cho 500 chức sắc tôn giáo, gắn liền với việc củng cố cơ chế quản lý nhà nước liên ngành.
Các nhà quản lý chính sách, chức sắc tôn giáo và giới nghiên cứu hãy tích cực khai thác những luận cứ khoa học từ công trình này để tiếp tục khơi dậy, nhân rộng nguồn lực tôn giáo vì sự phát triển phồn vinh và văn minh của xã hội.