Phần mở đầu Chƣơng 1: XHDS và hoạt động thông tin khoa học – công nghệ trong các tổ chức dân sự 1.1 XHDS Formatted: Bullets and Numbering 1.2 Bản chất của XHDS 1.3 Đặc điểm của XHDS 1.4 Chức năng của XHDS 1.5 Quá trình hình thành XHDS ở Việt Nam Formatted: Bullets and Numbering 1.2 Hoạt động thông tin khoa học – công nghệ trong các tổ chức dân sự 1.2 Thông tin khoa học – công nghệ Formatted: Bullets and Numbering 1.3 Hoạt động thông tin khoa học – công nghệ 1. Hành lang pháp lý cho hoạt động thông tin khoa học của các tổ chức dân sự 1.3 Vai trò của thông tin KH-CN trong giai đoạn hiện nay 1.4 Yêu cầu về nguyên tắc trong hoạt động thông tin KH-CN 1.1 Coi thông tin là hàng hóa 1.2 Quyền tiếp cận và truy cập thông tin là quyền cơ bản của mọi tổ chức, mọi thành phần xã hội, mọi tầng lớp dân cƣ 1.3 Coi tổ chức dân sự là một tác nhân gắn kết giữa hệ thống thông tin khoa học - công nghệ quốc gia và đối tƣợng sử dụng thông tin 1.4 Xã hội hóa thông tin khoa học - công nghệ và hoạt động thông tin khoa học - công nghệ 1.5 Coi thông tin là tiền đề nhằm tiến tới xã hội thông tin và xã hội tri thức, khẩn trƣơng ban hành và thực thi Luật tiếp cận thông tin 2.Chương 2: Thực trạng hoạt động thông tin khoa học – công nghệ của VUSTA Formatted: Bullets and Numbering 2. Bối cảnh mới và những thách thức của hoạt động thông tin khoa học - công nghệ 2.1 Bối cảnh mới của hoạt động thông tin khoa học - công nghệ 2.2 Nhiệm vụ của VUSTA tham gia hoạt động thông tin khoa học – công nghệ 2.3 Thách thức đối với VUSTA khi tham gia hoạt động thông tin khoa học – công nghệ 2. Nhận diện bƣớc đầu về kết quả hoạt động thông tin khoa học – công nghệ tại VUSTA 2.1 Hình thức hoạt động thông tin khoa học - công nghệ 2.2 Nội dung hoạt động thông tin khoa học – công nghệ của VUSTA Chương 3: Xu hướng phát triển và những giải pháp nâng cao chất lượng hoạt TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động thông tin khoa học – công nghệ của các tổ chức dân sự 3.1 Xu hƣớng phát triển của hoạt động thông tin khoa học - công nghệ 3.2 Những giải pháp thúc đẩy hoạt động thông tin khoa học – công nghệ trong các tổ chức xã hội dân sự - Phần kết luận và khuyến nghị TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ TRONG CÁC TỔ CHỨC DÂN SỰ 1.
Xã hội dân sự 1.1 Khái niệm Từ trƣớc đến nay, khái niệm XHDS có 2 cách thể hiện là “xã hô ̣i công dân” (Citizen Society) và “xã hô ̣i dân sƣ̣” (Civil Society). Trong các tài liệu khoa học Anh - Mỹ, thuật ngữ “Citizen Society” không đƣợc dùng nhƣ một khái niệm phổ biến. Điều này đƣợc quy định bởi tính độc lập, không phụ thuộc vào Nhà nƣớc của các tổ chức công dân tại các quốc gia phát triển. Trong khi đó, ở các nƣớc châu Á, một số nƣớc Đông Âu, Bắc Âu do thể chế chính trị quy định nên các tổ chức đƣợc coi là dân sự không độc lập hoàn toàn với Nhà nƣớc.
Ranh giới giữa 2 khái niệm này trở nên không rõ rệt nhƣ ở các nƣớc tƣ bản phát triển. Vì vậy, dẫn đến việc các nƣớc này, trong đó có Việt Nam, sử dụng cả hai cách gọi XHCD hay XHDS để chỉ các tổ chức mang tính dân sự. Thực tế, ở Việt Nam đến nay chƣa có một văn bản pháp lý nào trực tiếp đƣa ra định nghĩa về XHDS hay XHCD. Tuy nhiên, dù vẫn đƣợc diễn đạt theo hai cách nhƣng hiện nay khuynh hƣớng sử dụng XHDS trở nên phổ biến hơn.
Theo đánh giá của Liên minh Thế giới Vì sự tham gia của công dân - CIVICUS, trƣờng hợp tƣơng tự cũng diễn ra ở nhiều nƣớc khác. Nghiên cứu này thống nhất sử dụng cả hai cách gọi trên để chỉ XHDS. Một số điểm khác biệt cơ bản giữa 2 khái niệm: XÃ HỘI CÔNG DÂN XÃ HỘI DÂN SỰ - Là một khái niệm pháp lý luôn gắn - Là một khái niệm mở, không chỉ gắn liền với khái niệm Nhà nƣớc pháp với Nhà nƣớc mà còn gắn với khu vực quyền. gia đình và tƣ nhân.
- Biểu thị mặt đối lập biện chứng của - Biểu thị mặt đối lập biện chứng của khái niệm chính trị xã hội - một khái khái niệm nhà nƣớc pháp quyền niệm rộng hơn rất nhiều so với khái niệm nhà nƣớc pháp quyền. - Chủ yếu biểu thị cộng đồng xã hội, - Không những dùng để chỉ cộng đồng bao gồm tất cả các công dân (từ 18 hoặc XHCD với tƣ cách pháp nhân do Nhà 21 tuổi trở lên) tồn tại với tƣ cách pháp nƣớc quy định, mà còn dùng để chỉ tất nhân trong một quốc gia dân tộc nhất cả mọi ngƣời và mọi tổ chức, mọi nhóm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com định; các pháp nhân khác nhƣ tổ chức xã xã hội tồn tại và hoạt động trong cộng hội, tổ chức cộng đồng, tổ chức tôn đồng. giáo…bao giờ cũng là những thể tập hợp pháp nhân của công dân. Nhƣ vậy, khái niệm XHDS rộng hơn khái niệm XHCD.
Khái niệm XHDS đã đƣợc các triết gia thời kỳ Khai Sáng ở Âu châu sử dụng. Các tƣ tƣởng gia nhƣ Hobbes, Locke, Rousseau dùng XHDS (civil society) để chỉ một trạng thái xã hội khi con ngƣời đã bắt đầu sống quần tụ với nhau, khác với trạng thái thiên nhiên (state of nature). Xã hội càng phát triển thì lại càng nẩy nở thêm nhiều sắc thái và bộ phận khác nhau. Do đó, các nhà tƣ tƣởng thuộc thế kỷ 19 và thế kỷ 20 nhƣ Hegel, Marx, Gramsci, Diamond đều có những khái niệm không giống nhau, và không thể thống nhất về một định nghĩa cho XHDS.
Tuy nhiên, các học giả thuộc thế kỷ 20 đều đồng ý: XHDS là sự hiện hữu của một lãnh vực công nằm giữa nhà nƣớc, thị trƣờng, và cá nhân. Chính trong lãnh vực công này (Publicsphere) mà các công dân hoạt động "nhằm biểu tỏ các mối quan tâm, tƣ tƣởng, trao đổi thông tin, thực hiện các mục tiêu chung có tính chất tƣơng hỗ, kiến nghị với nhà nƣớc và buộc các viên chức nhà nƣớc phải chịu trách nhiệm trong công vụ". "XHDS là khái niệm xuất hiện sớm nhất ở nƣớc Anh (1594). Nó đƣợc hiểu là những con ngƣời sống trong cộng đồng.
Sau đó, khái niệm này có hai nghĩa. Trong lý thuyết của các nhà triết học Scottish (thế kỷ XVIII), XHDS có nghĩa là xã hội văn minh với một Nhà nƣớc không độc đoán. Đến thế kỷ XIX, ở nƣớc Đức, trong các trƣớc tác chính trị của Hêgen, thuật ngữ XHDS phân biệt với Nhà nƣớc. Hêgen mô tả XHDS nhƣ là một phần của đời sống đạo đức, bao gồm ba yếu tố gia đình, XHDS và Nhà nƣớc, khái niệm hàm nghĩa lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó các cá nhân theo đuổi những lợi ích riêng trong giới hạn đã đƣợc pháp luật thừa nhận.
Nhà triết học này nhấn mạnh rằng, một XHDS tự tổ chức cần phải do Nhà nƣớc cân nhắc và đặt trật tự cho nó, nếu không xã hội đó sẽ trở thành tƣ lợi và không đóng góp gì cho lợi ích chung. Xét về những điều kiện lịch sử của XHDS, nó có thể đƣợc coi là một thành quả của sự phát triển lịch sử nhân loại. XHDS xuất hiện lần đầu tiên tại một số nơi ở châu Âu vào cuối thế kỷ XVIII. Các giai cấp trung lƣu mới cùng với giới hữu sản đang thƣơng mại hóa, đòi hỏi những điều kiện khuyến khích sự phát triển của tích luỹ tƣ nhân, trong khi Nhà nƣớc vẫn duy trì trật tự và tính ổn định hợp pháp nhƣng không còn có thể áp đặt những trật tự tôn giáo trung cổ.
Đây là giai đoạn Nhà nƣớc phát triển mạnh để duy trì luật pháp và trật tự mới dựa trên những nguyên lý của triết học Khai sáng. Bốn nguyên lý sau của triết học Khai sáng đƣợc coi là gắn liền với sự xuất hiện của XHDS trong thời đại này: - Sự thay thế cái siêu nhiên bằng tự nhiên, tôn giáo bằng khoa học, quyết định của thần thánh bằng quy luật của tự nhiên. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Đề cao vai trò của lý tính dựa trên kinh nghiệm, coi đó là công cụ giải quyết các vấn đề xã hội. - Lòng tin vào tính thiện của con ngƣời và do đó, vào tiên bộ của nhân loại.
- Sự quan tâm tới những quyền con ngƣời, đặc biệt là quyền tự do. Từ quan điểm này, các nhà triết học Khai sáng nhìn XHDS nhƣ là một sự thay thế về mặt xã hội cho trạng thái tự nhiên, cho việc đề cao tính cá nhân và tinh thần hiệp hội đang nổi lên ở thời kỳ đó. Khái niệm XHDS còn đƣợc đặc trƣng bằng tinh thần cộng đồng. Các nhà xã hội học, đặc biệt là Tocqueville, coi nƣớc Mỹ thế kỷ XIX là điển hình về mặt này.
Giải thích về tinh thần hiệp hội ở Mỹ thế kỷ XIX, giới phân tích nhấn mạnh vào sự tự nguyện, tinh thần cộng đồng và đời sông hiệp hội độc lập nhƣ là những cơ chế đảm bảo sự cố kết xã hội đặc thù tại một xã hội đa sắc tộc. Sự tự nguyện và tinh thần cộng đồng của các công dân theo nghĩa đó là đặc trƣng cho "bản chất" của khu vực dân sự và nó góp phần vào họat động có hiệu quả của Nhà nƣớc. Về sau này, nhiều phân tích đều nhấn mạnh tới tính đặc thù này và coi đó là cái tạo nên sự năng động của xã hội Mỹ. Khái niệm XHDS: Định nghĩa của Liên minh Thế giới Vì sự tham gia của công dân: XHDS là “Diễn đàn giữa gia đình, nhà nƣớc và thị trƣờng, nơi mà mọi con ngƣời bắt tay nhau để thúc đẩy quyền lợi chung” (CIVICUS 2005).
Định nghĩa này khác với hầu hết các khái niệm XHDS ở phƣơng Tây: - Thứ nhất, nó thể chế hóa, ghi nhận các điều kiện và các nhóm không chính thống trong XHDS. - Thứ hai, XHDS đƣợc coi là một “diễn đàn”, một không gian nơi mà mọi ngƣời có thể đến với nhau và tìm cách gây ảnh hƣởng với xã hội lớn hơn. Hơn nữa, ngƣời ta nhận thấy rằng các ranh giới giữa XHDS, thị trƣờng, Nhà nƣớc và gia đình là mờ nhạt. - Thứ ba, khái niệm này căn cứ theo “chức năng” hơn là theo “hình thức” tổ chức.