Chương 1: Lý luận cơ bản về hoạt động kinh doanh trái phiếu của Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh trái phiếu tại NHTMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hà Nội. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh trái phiếu tại NHTMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thành phố Hà Nội. 5 1CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TRÁI PHIẾU CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TRÁI PHIẾU CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái quát về Ngân hàng thương mại Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế có bản chất là doanh nghiệp nhưng hoạt động dựa trên kinh doanh tiền tệ và tín dụng. Ngân hàng gồm nhiều loại hình tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thương mại thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về qui mô tài sản, thị phần và số lượng các ngân hàng. Theo Lênin: “Ngân hàng là xí nghiệp đặc biệt kinh doanh tiền tệ và tín dụng.
Sự ra đời của ngân hàng là kết quả của phân công lao động xã hội, chừng nào còn kinh doanh hàng hoá thì còn có ngân hàng, ngân hàng là kế toán cho cả nền kinh tế”. Đứng trên phương diện những loại hình dịch vụ cung cấp, giáo sư Peter S.Rose - Hoa Kì đã khẳng định “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” [13]. Hoạt động chính của Ngân hàng thương mại a) Hoạt động huy động vốn Ngoài nguồn vốn tự có (vốn điều lệ và các quỹ), hoạt động huy động vốn có ý nghĩa quan trọng đối với NHTM trong việc tạo lập nguồn vốn để hoạt động kinh doanh. Hoạt động huy động vốn của NHTM bao gồm: - Tiền gửi của khách hàng, các tổ chức kinh tế Tiền gửi không kỳ hạn: là khoản tiền mà khách hàng gửi vào ngân hàng nhưng khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào và ngân hàng phải luôn đảm bảo yêu cầu này.
Mục đích của khách hàng khi gửi tiền vào ngân hàng là an toàn và hưởng các dịch vụ ngân hàng, tạo mối quan hệ với ngân hàng. 6 Tiền gửi có kỳ hạn: là khoản tiền khách hàng gửi vào ngân hàng mà có sự thoả thuận về thời hạn trong đó khách hàng không được rút trước hạn. Đây là nguồn vốn mà khách hàng gửi vào ngân hàng với mục đích sinh lời là chủ yếu và ngân hàng phải trả lãi cao hơn hơn tiền gửi không kỳ hạn. - Huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá: Các NHTM không chỉ sử dụng các công cụ truyền thống để huy động vốn mà còn đưa ra các các công cụ mới có hiệu quả hơn để huy động vốn một cách dễ dàng đáp ứng nhu cầu vốn của mình là kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng.
Kỳ phiếu và trái phiếu là giấy tờ có giá xác nhận khoản nợ của ngân hàng với người nắm giữ. Kỳ phiếu được phát hành thường xuyên và có kỳ hạn ngắn: 3, 6 …12 tháng. Trái phiếu thường có kỳ hạn lớn hơn 1 năm. - Huy động vốn qua đi vay Vay TCTD khác: Trong quá trình hoạt động ngân hàng có thể vay TCTD khác thông qua thị trường tiền tệ liên ngân hàng.
Chi phí của nguồn vốn này thường cao và thời gian sử dụng thường ngắn. Các ngân hàng cho nhau vay dưới các hình thức: vay qua đêm, vay kỳ hạn, hợp đồng gia hạn. Vay NHNN: NHNN cho NHTM vay dưới hình thức chiết khấu giáy tờ có giá nhằm thực thi chính sách tiền tệ, đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng. - Các hình thức huy động vốn khác: NHTM có thể tiếp nhận nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng, ngân sách nhà nước, các tổ chức tài chính quốc tế để tài trợ các chương trình, dự án phát triển kinh tế, xã hội, cải tạo môi trường sinh sống… Ngoài ra NHTM còn huy động được nguồn vốn phát sinh trong quá trình làm đại lý, chuyển tiền, các dịch vụ ngân hàng… để bổ sung nguồn vốn huy động phục vụ hoạt động kinh doanh.
b) Hoạt động tín dụng Hoạt động tín dụng là hoạt động cấu thành nên tài sản có và có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng. NHTM được cấp tín dụng cho tổ chức và cá nhân dưới hình thức cho vay, chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố giấy tờ có giá, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của pháp luật. 7 - Cho vay: NHTM trực tiếp cho các tổ chức, cá nhân vay vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống. - Chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá: NHTM cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác.
Ngân hàng cũng có thể cấp tín dụng dưới hình thức cầm cố các hối phiếu và giấy tờ có giá ngắn hạn khác và được thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp phát sinh trong trường hợp chủ sở hữu các giấy tờ có giá đó không thực hiện đầy đủ các cam kết trong hợp đồng tín dụng. Ngoài ra NHTM có thể sử dụng các hối phiếu và chúng từ có giá đã nhận chiết khấu để tái chiết khấu vay vốn tại NHNN hay NHTM khác. - Bảo lãnh ngân hàng: NHTM được bảo lãnh bằng uy tín và khả năng tài chính của mình để bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự thầu và các bảo lãnh khác cho các tổ chức, cá nhân. - Bao thanh toán trong nước, bao thanh toán quốc tế đối với các ngân hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế.
c) Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ Dịch vụ cung ứng các phương tiện thanh toán: Ngân hàng thực hiện cung ứng các phương tiện thanh toán cho các tổ chức và cá nhân khi đến giao dịch với ngân hàng như: Mở tài khoản tiền gửi, séc, ủy nhiệm chi, thẻ thanh toán… Dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng: NHTM được phép thanh toán trong nước thông qua hệ thống ngân hàng của mình, liên ngân hàng hoặc ngân hàng nhà nước để đáp ứng nhu cầu thanh toán của các tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế. Dịch vụ thanh toán quốc tế: Khi được ngân hàng nhà nước chấp thuận, ngân hàng thương mại được thực hiện chức năng thanh toán quốc tế như: mua bán ngoại tệ, giao dịch liên quan đến L/C, chuyển tiền quốc tế, giao dịch hàng hóa tuơng lai… để đáp ứng nhu cầu giao lưu kinh tế quốc tế của các cá nhân và doanh nghiệp trong xã hội. 8 Ngoài ra, ngân hàng thực hiện các dịch vụ thanh toán khác như dịch vụ thu hộ, chi hộ, tư vấn tài chính, giữ hộ tài sản, thanh toán séc. d) Các hoạt động khác - Góp vốn đầu tư, mua cổ phần của doanh nghiệp, tổ chức tín dụng khác từ nguồn vốn tự có để đa dạng hóa danh mục đầu tư, hạn chế rủi ro và nâng cao hiệu quả kinh doanh.
- Tham gia thị trường tiền tệ: Thị trường đấu giá tín phiếu kho bạc, thị trường nội tệ và ngoại tệ liên ngân hàng, thị trường giấy tờ có giá ngắn hạn khác theo quy định của ngân hàng nhà nước. - Hoạt động ủy thác và đại lý liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân theo hợp đồng. - Hoạt động kinh doanh bảo hiểm: NHTM được thành lập công ty độc lập để kinh doanh bảo hiểm theo quy định của pháp luật. - Kinh doanh dịch vụ chứng khoán: NHTM được thành lập công ty độc lập để hoạt động kinh doanh chứng khoán bao gồm: Môi giới chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư, lưu ký chứng khoán, tư vấn tài chính doanh nghiệp, tư vấn niêm yết và bảo lãnh phát hành.
Hoạt động đầu tư của Ngân hàng thương mại Hoạt động đầu tư của NHTM là một trong những hoạt động kinh doanh của NHTM. Hoạt động đầu tư của các NHTM được thực hiện thông qua các hình thức đầu tư trên thị trường chứng khoán và đầu tư góp vốn, liên doanh liên kết với các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính tín dụng. Trong kết cấu bảng cân đối tài sản của một NHTM, mục đầu tư bao gồm 2 khoản: - Đầu tư chứng khoán: trái phiếu và giấy tờ có giá khác. - Hùn vốn, liên doanh, liên kết vối các tổ chức tín dụng khác.
Như vậy, hoạt động đầu tư chính của các NHTM là đầu tư chứng khoán và hoạt động hùn vốn, liên doanh, liên kết với các tổ chức tín dụng khác. a) Hoạt động đầu tƣ chứng khoán - Các công cụ đầu tư trên thị trường tiền tệ: kỳ hạn dưới 1 năm, mức độ rủi ro 9 thấp và có thể được bán lại dễ dàng trên thị trường. Bao gồm: Tín phiếu kho bạc Thương phiếu Chứng chỉ tiền gửi, Thương phiếu chấp nhận thanh toán Chấp phiếu ngân hàng - Các công cụ trên thị trường vốn Cổ phiếu Trái phiếu kho bạc, trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu công ty Chứng chỉ quỹ đầu tư Trong đó, tính thanh khoản các chứng khoán ngắn hạn thường được xếp hàng đầu trong số các chứng khoán thanh khoản (các chứng khoán có tính thanh khoản cao), được giữ như một tài sản đệm cho ngân quỹ. Đứng sau chứng khoán ngắn hạn của Chính phủ là thương phiếu do các ngân hàng, hoặc các công ty tài chính nổi tiếng phát hành hoặc chấp nhận thanh toán.
Chứng khoán Chính phủ có thời gian đáo hạn dài, chứng khoán trung và dài hạn của các công ty khác có tỷ lệ sinh lời cao. Ngân hàng thường nắm giữ chứng khoán đến ngày đáo hạn để thu lợi. Ngân hàng cũng nắm giữ chứng khoán công ty để thực hiện quyền tham dự, kiểm soát hoạt động của công ty. b) Hoạt động góp vốn, liên doanh với các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính tín dụng Hoạt động góp vốn, liên doanh với các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính tín dụng cũng được xem là một hoạt động đầu tư của NHTM.