CHƯƠNG 1 MỘT SÓ VÁN ĐÈ VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1. Tổng quan về hoạt động tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ 1. Tín dụng Quá trình hình thành và phát triển của NHTM gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, mà tiếp theo đó là nền kinh tế thị trường năng động với môi trường cạnh tranh gay gắt. Sự có mặt của các NHTM trong hầu hết các hoạt động kinh tế, xã hội đã chứng minh rằng ở đâu có một hệ thống NHTM phát triển thì ở đó có sự phát triển cao của nền kinh tế xã hôi và ngược lại.
Ở Việt Nam, NHTM được quy định rõ trong điều 4 khoản 3 Luật ngân hàng và các tổ chức tín dụng Việt Nam năm 2010: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.” Cũng theo điều luật này, NHTM có hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó dé cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Theo đó, khái niệm cho vay được định nghĩa theo nhiều cách như sau: Theo giáo trình “Ngân hàng thương mại” của Đại học Kinh tế Quốc dân xuất bản năm 2013, do PGS.TS Phan Thị Thu Hà chủ biên có định nghĩa: “Cho vay là việc ngân hàng cấp tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định. Ngân hàng có thê cho vay bằng tiền mặt hoặc chuyền khoản, tiền có thé chuyền tới tài khoản của khách hàng hoặc tài khoản của người bán hàng cho khách hàng.” Theo Luật các tô chức tín dụng năm 2010 do Quốc hội ban hành cũng đưa ra một định nghĩa khác về cho vay: “Cho vay là hình thức cấp tin dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền dé sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” Từ những định nghĩa về cho vay ở trên, có thể đưa ra một khái niệm cho vay của NHTM như sau: “Cho vay của NHTM là một hình thức cấp tin dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích cá nhân hay đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh trong thời gian nhất định, theo thỏa 1 thuận của ngân hang và khách hang, với nguyên tac có hoàn trả cả gôc và lãi theo đúng thời hạn đã cam kết. Doanh nghiệp vừa và nhỏ Như đã nói ở trên, hoạt động chủ yếu của NHTM là di vay dé cho vay lại nên nhiệm vụ cân bằng nguôn vốn huy động được và nguồn vốn cho vay mà vẫn tạo ra được lợi nhuận trở thành mục tiêu chiến lược của các ngân hàng.
Trong đó, cho vay đối với DNVVN là một trong những kênh hoạt động mang lại hiệu quả lớn trong quá trình kinh doanh của NHTM. Khi nhắc đến doanh nghiệp vừa và nhỏ là nói đến cách xác định doanh nghiệp theo độ lớn hoặc quy mô của các doanh nghiệp, tuy nhiên một số tiêu thức chung phổ biến nhất thường thay trên thé giới là : Số lao động cố định, vốn sản xuất, giá trị gia tăng, doanh thu và lợi nhuận. Tiêu thức về số lao động và vốn thể hiện quy mô sử dụng các yếu tố đầu vào, còn tiêu thức về gia tri gia tăng, doanh thu và lợi nhuận lại đánh giá quy mô theo những yếu tô đầu ra. Bởi vậy, từng tiêu thức đều có mặt tích cực và mặt hạn chế riêng.
Do đó, dé phân loại DNVVN có thể dùng các yếu tố đầu vào hoặc các yêu tô đâu ra, hoặc là sự kêt hợp của cả hai yêu tô đó. Ở Việt Nam, theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ về trợ giúp phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ ban hành năm 2009 định nghĩa như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”, cụ thê như sau: Doanh nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nhỏ > Tổng Tổng Số lao động Số lao động 1 nguon von nguồn vốn (người) (người) (tý đồng) (tý đồng) 1. Nông, lâm nghiệp 10 - 200 20-100 | 200-300 và thủy sản 3. Thương mại và dịch 10 - 50 10— 50 50 - 100 vụ Theo Nghị định trên thì đã có sự đổi mới về định nghĩa DNVVN so với Nghị định 90/2001/NĐ-CP ban hành năm 2001 thê hiện ở sự phân cấp rõ ràng hơn, có thêm cấp doanh nghiệp siêu nhỏ và quy mô tổng nguồn vốn được mở rộng hơn, từ 20 tỷ đồng trở xuống (trong khi Nghị định 90/2001/NĐ-CP là dưới 10 tỷ đồng).
Vai trò của hoạt động tín dụng 1. Đối với doanh nghiệp Đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp một cách kịp thời Hiện nay, NHTM vẫn là nguồn cung cấp tài chính lớn và quan trọng nhất của các doanh nghiệp nói chung và DNVVN nói riêng. Trên thực tế, có rất ít doanh nghiệp chỉ dựa vào VCSH dé phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh mà đa phần các doanh nghiệp phải tìm thêm các nguồn khác dé tài trợ cho hoạt động của mình. Trong đó có vôn vay ngân hàng.
Trong điều kiện kinh tế thị trường mọi thứ diễn ra rất nhanh chóng, theo chiều hướng thay đổi đa dạng, khó lường đòi hỏi các DNVVN phải nắm bắt được cơ hội và luôn luôn đổi mới dé đáp ứng nhu cầu thị trường. Nếu không huy động được nguồn vốn đủ, kịp thời thì sẽ gây bắt lợi rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Ngân hàng được coi như “thủ quỹ của doanh nghiệp” giúp các doanh nghiệp được đáp ứng nhu câu về vôn. Nâng cao hiệu quả hoạt động sử dụng vốn cua các doanh nghiệp Dé có được nguồn vốn nay bắt buộc DNVVN phải đáp ứng được các yêu cầu về điêu kiện tín dụng, kiêm soát của ngân hàng và chi phí sử dụng vôn.
Một khi doanh nghiệp được Ngân hàn chấp nhận cho vay vốn, thì doanh nghiệp cũng chịu sự kiểm soát của ngân hàng về mục đích và tình hình sử dụng vốn vay. Khi doanh nghiệp vay vốn, doanh nghiệp phải cam kết trả một mức lãi suất cho ngân hàng. Lãi suất này phụ thuộc vào tình hình thực tế trên thị trường tài chính. Khách hàng muốn trả được nợ cho ngân hàng thì phải có trách nhiệm sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả, tạo ra nguồn lợi nhuận lớn, vừa dé làm giàu cho bản thân và vừa trả được nợ ngân hàng.
Chính điều này là động lực dé các doanh nghiệp kê hoạch sử dụng vôn một cách hiệu quả nhât. Khi ngân hàng thâm định tín dụng đã xem xét rất cân thận về tính hợp lý, hiệu quả của phương án, dự án xin vay vốn, nên loại bỏ được những dự án, phương án không khả thi. Thêm nữa, trong các trường hợp cần thiết ngân hàng còn đưa ra các nhận xét, góp ý dé khách hàng có thé thay đồi và điều chỉnh nội dung trong phương án, dự án xin vay vôn. Qua các yếu tổ trên, có thé thay vay vốn ngân hàng có tác dụng rất lớn trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vôn của doanh nghiệp.
Đối với ngân hàng Tạo ra lợi nhuận lớn cho ngân hàng Cho vay đối với DNVVN chiếm tỉ trọng tương đối lớn trên tổng doanh số cho vay của các NHTM hiện nay. Đây cũng là nguồn tạo ra khoản lợi nhuận không 16 cho các ngân hàng, góp phần lớn vào sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Giúp ngân hàng nâng cao thị phần và uy tín Số lượng các DNVVN rất đông đảo, chiếm tới 98% trên tổng số các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay, hơn nữa hầu hết các doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn về vốn, chính vì vậy cho vay DNVVN là thị trường màu mỡ của các ngân hàng. Việc cho vay DNVVN sẽ giúp các ngân hàng mở rộng thị phan, nâng cao vị thế và tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng.
Hình ảnh, uy tín của ngân hàng ngày càng được cải thiện và tăng lên dựa trên lòng tin của các DNVVN đến vay vốn. Giúp ngân hàng linh hoạt và không ngừng đổi mới sản phẩm Nền kinh tế thị trường luôn biến động kéo theo sự biến động trong hoạt động kinh doanh của các DNVVN vi vậy nhu cầu vay vốn của DNVVN cũng rất đa dạng, đòi hỏi các ngân hàng phải thường xuyên nghiên cứu, tìm tòi các sản phâm cho vay thích hợp với từng ngành nghé kinh doanh và trong từng thời kì thích hợp sao cho đảm bảo lợi ích cao nhất cho ngân hàng mà vẫn đáp ứng nhu cầu khách hàng. Việc luôn luôn đổi mới, tìm ra các sản phẩm mới giúp hoạt động của các ngân hàng diễn ra trơn tru hơn, không bị ngừng trệ, dậm chân tại chỗ và trở nên linh hoạt hơn. Đối với nên kinh tế Hoạt động cho vay DNVVN của NHTM cũng chính là một hoạt động bom thêm vốn cho nền kinh tế thông qua một thành phần kinh tế.
Công việc kinh doanh có hiệu quả của các DNVVN sẽ đóng góp cho nền kinh tế một khoản lợi nhuận lớn, giúp nền kinh tế luôn vận động và phát trién. Các nguyên tắc của hoạt động tín dụng 1. Nguyên tắc thứ nhất: Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đông tín dụng Hợp đồng tín dụng cho biết thỏa thuận về mục đích sử dụng vốn vay giữa ngân hàng và khách hàng. Việc sử dụng vốn đúng mục đích phải được khách hàng cam kết, thực hiện có hiệu quả và không vi phạm quy định của pháp luật.
Nếu khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích và không có hiệu quả sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và thu hồi vốn của ngân hàng, nghiêm trọng hơn là làm giảm uy tín của ngân hàng. Trong trường hợp khách hàng vi phạm nguyên tắc này, ngân hàng cần phải xây dựng kế hoạch một cách cụ thé, tổ chức thực hiện chính sách kịp thời ngăn ngừa rủi ro có thé xảy ra. Mặt khác, ngân hàng cũng phải đảm bảo đáp ứng chính xác những mục dich sử dụng vốn cụ thé của khách dé kịp thời cung cấp.