CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VHDN 1.1 Các khái niệm về văn hóa, văn hóa doanh nghiệp 1.1 Khái niệm văn hóa Văn hóa được hình thành và phát triển cùng với sự ra đời của xã hội loài người. Có thể nói văn hóa là sản phẩm của con người do con người sáng tạo trong suốt chiều dài lịch sử của mình. Thuật ngữ “văn hóa” có rất nhiều nghĩa, tùy theo cách tiếp cận nghiên cứu thì sẽ có những khái niệm văn hóa khác nhau. Tuy được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau nhưng khái niệm văn hóa cũng có thể phân loại theo phạm vi nghiên cứu và hình thức biểu hiện.
Căn cứ theo phạm vi nghiên cứu có ba cấp độ nghiên cứu chính về văn hóa, đó là: “Loài người là một bộ phận của tự nhiên nhưng khác với các sinh vật khác, loài người đã tạo ra một sản phẩm riêng biệt bằng lao động và tri thức đó chính là văn hóa. Do đó nói đến văn hóa là nói đến con người nói tới những đặc trưng riêng chỉ có ở loài người, việc phát huy những năng lực bản chất của con người nhằm hoàn thiện con người, hướng con người vươn tới chân-thiện-mỹ”. Đó là 3 giá trị trụ cột vĩnh hằng của văn hóa nhân loại. Cho nên, theo nghĩa này, văn hóa có mặt trong tất cả các hoạt động của con người dù đó chỉ là những suy tư thầm kín, những cách giao tiếp ứng xử cho đến những hoạt động kinh tế, chính trị và xã hội.
Như vây, hoạt động văn hóa là hoạt động sản xuất ra các giá trị vật chất và tinh thần nhằm giáo dục con người khát vọng hướng tới chân -thiện- mỹ trong đời sống. +Theo nghĩa hẹp, văn hóa là những hoạt động và giá trị tinh thần của con người. Trong phạm vi này, văn hóa khoa học (toán học, hóa học….) và văn hóa nghệ thuật (văn học, điện ảnh….) được coi là hai phân hệ chính của hệ thống văn hóa. +Theo nghĩa hẹp hơn nữa, văn hóa được coi như một ngành-ngành văn hóa- nghệ thuật để phân biệt với các ngành kinh tế-kỹ thuật khác.
Cách hiểu này thường kèm theo cách đối xử sai lệch về văn hóa.Coi văn hóa là lĩnh vực hoạt động đứng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 ngoài kinh tế, sống được nhờ sự trợ cấp của nhà nước và ăn theo nền kinh tế (Dương Thị Liễu và cộng sự, 2009, trang 10). Khi phân loại căn cứ theo hình thức biểu hiện, văn hóa được phân loại thành văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, hay nói đúng hơn theo cách phân loại này văn hóa bao gồm văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể. Các đền chùa, cảnh quan di tích lịch sử cũng như các sản phẩm văn hóa truyền thống như đồ gốm tranh, tượng, các loại trang phục….đều thuộc loại hình văn hóa phi vật thể. Tuy vậy sự phân loại trên cũng chỉ có nghĩa tương đối bởi vì trong một sản phẩm văn hóa thường có cả yếu tố “vật thể” và “phi vật thể” (Dương Thị Liễu và cộng sự, 2009).
Như vậy, khái niệm văn hóa rất rộng, trong đó có những giá trị vật chất và tinh thần được sử dụng làm nền tảng định hướng cho lối sống, đạo lý, tâm hồn và hành động của mỗi dân tộc và các thành viên để vươn tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp, cái mỹ trong mối quan hệ giữa người và người, giữa người với tự nhiên và môi trường xã hội. Tổ chức văn hóa, giáo dục, khoa học của Liên Hợp Quốc (UNESCO) đưa ra một định nghĩa được nhiều quốc gia thừa nhận và ứng dụng: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và hiện tại hình thành một hệ thống các giá trị truyền thống và thị hiếu. Văn hóa đó xác định từng đặc trưng riêng của dân tộc”. Từ những đặc trưng và nhận định có thể rút ra văn hóa như sau: “Văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần mà loài người tạo ra trong quá trình lịch sử”.2 Khái niệm về văn hóa doanh nghiệp Văn hóa tham gia vào mọi quá trình hoạt động của con người và sự tham gia đó ngày càng được thể hiện rõ nét và tạo thành lĩnh vực văn hóa đặc thù như văn hóa chính trị, văn hóa pháp luật, văn hóa giáo dục, văn hóa gia đình…và văn hóa kinh doanh.
Văn hóa là một công cụ quan trọng và không thể thiếu trong quản lý điều hành, bất kể đó là điều hành một quốc gia, một xã hội, một doanh nghiệp hay một cơ quan. Người ta không thể quản lý điều hành tốt mà không sử dụng công cụ văn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Về mặt khoa học quản trị, việc quản trị một doanh nghiệp hay một quốc gia điều có những nét tương đồng. Người ta thường sử dụng pháp luật và văn hóa xã hội như hai công cụ quan trọng để quản lý một quốc gia.Và cũng tương tự người ta có thể dùng quy chế và văn hóa doanh nghiệp để quản lý một doanh nghiệp.
Văn hóa doanh nghiệp được các nhà nghiên cứu kinh tế trên thế giới bắt đầu tìm hiểu và nghiên cứu từ thập niên 70 của thế kỷ 20 sau thành công của các doanh nghiệp Nhật Bản có nền tảng dựa vào văn hóa doanh nghiệp giới doanh nhân. Khái niệm văn hóa doanh nghiệp có nhiều định nghĩa nhưng vẫn chưa có định nghĩa chuẩn nào được công nhận chính thức. Theo chuyên gia người Pháp về doanh nghiệp vừa và nhỏ đã cho rằng văn hóa doanh nghiệp là tổng hợp các giá trị, các biểu tượng huyền thoại, nghi thức các điều cấm kỵ, các quan điểm triết học, đạo đức nền móng sâu xa của DN. Trong khi đó tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì định nghĩa văn hóa doanh nghiệp như là một sự trộn lẫn giá trị, tiêu chuẩn, thói quen, truyền thống, những ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng ta là duy nhất với một tổ chức đã biết.
Hoặc theo (Kotter và Heskett, 1992) văn hóa tổ chức tượng trưng cho một hệ thống độc lập bao gồm các giá trị và cách ứng xử chung trong một cộng đồng và có khuynh hướng được duy trì trong thời gian dài. Như vậy văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần được gầy dựng nên trong suốt quá trình hình thành tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp. Các giá trị đó trở thành quan niệm tập quán truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp và chi phối đến tình cảm, nếp suy nghĩ niềm tin, lý tưởng, hành vi mọi thành viên của doanh nghiệp trong việc thực hiện các mục tiêu chung. Văn hóa doanh nghiệp là một trong những yếu tố gắn kết lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể, hưởng hành vi cá nhân vào việc thực hiện tốt nhất mục tiêu và sự kỳ vọng của doanh nghiệp.
Văn hóa doanh nghiệp là sản phẩm của những người làm cùng trong một doanh nghiệp và đáp ứng nhu cầu giá trị bền vững. Văn hóa doanh nghiệp xác lập một hệ thống các giá trị được mọi người trong doanh nghiệp chấp nhận, đề cao, chia sẻ và ứng xử theo các giá trị đó. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Văn hóa doanh nghiệp tạo nên sự khác biệt cho doanh nghiệp và được coi là bản sắc đặc trưng riêng của mỗi doanh nghiệp, VHDN liên quan đến các nhận thức những gì mà thấy và nghe được. Với cách hiểu như vậy, khái niệm VHDN có thể định nghĩa như sau: “VHDN là một hệ thống các ý nghĩa giá trị, niềm tin chủ đạo, cách nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên trong doanh nghiệp đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của từng thành viên trong hoạt động kinh doanh, tạo nên bản sắc kinh doanh của doanh nghiệp đó.
Tóm lại văn hóa doanh nghiệp là những đặc trưng, bản sắc cá tính nét riêng cơ bản để phân biệt doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác. Đồng thời VHDN là những chuẩn mực hành vi, hệ thống giá trị mà tất cả những người trong doanh nghiệp đó phải tuân theo hoặc bị chi phối.2 Vai trò của văn hóa doanh nghiệp Các yếu tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp không phải nguồn vốn nhiều hay ít sử dụng công nghệ gì mà nó được quyết định bởi việc tổ chức những con người như thế nào, nguồn nhân lực luôn là tài sản quý giá nhất của mỗi doanh nghiệp. Con người có thể đi lên từ tay không nhưng không bao giờ từ tay không về văn hóa. Văn hóa chỉ có nền tảng chứ không có điểm mốc cuối cùng do vậy xuất phát điểm của doanh nghiệp sẽ rất cao nếu nó được xây dựng trên nền tảng văn hóa.
Các doanh nghiệp khi xây dựng đều phải có nhận thức và niềm tin triệt để khi đó văn hóa sẽ xuất hiện. Văn hóa doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, thể hiện qua các mặt sau: Văn hóa doanh nghiệp là nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp được xem xét trên các khía cạnh như: chất lượng sản phẩm, chi phí, sự linh hoạt, thời gian giao hàng….để có được những lợi thế này doanh nghiệp phải có được những nguồn lực như nhân lực tài chính công nghệ. Nguồn lực tài chính, máy móc, nguyên vật liệu đóng vai trò lợi thế so sánh với đối thủ cạnh tranh trước khách hàng. Nguồn nhân lực đóng vai trò tham TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 gia toàn bộ quá trình chuyển hóa các nguồn lực khác thành sản phẩm đầu ra vì vậy có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định tạo ra những lợi thế cạnh tranh như chất lượng sản phẩm, thời gian giao hàng.
Tính hiệu quả của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào yếu tố văn hóa. Nó ảnh hưởng trực tiếp to lớn đến việc hình thành mục tiêu, chiến lược và chính sách, nó tạo ra định hướng có tính chất chiến lược đồng thời cũng tạo thuận lợi cho việc thực hiện thành công chiến lược cho bản thân doanh nghiệp. Môi trường văn hóa của doanh nghiệp còn có ý nghĩa tác động quyết định đến tinh thần, thái độ động cơ lao động của các thành viên và việc sử dụng đội ngũ lao động vào các yếu tố khác Văn hóa doanh nghiệp là một nguồn lực của doanh nghiệp Mục tiêu của văn hóa doanh nghiệp là nhằm xây dựng một phong cách quản trị hiệu quả đưa hoạt động của doanh nghiệp vào nề nếp và xây dựng mối quan hệ hợp tác thân thiện giữa các thành viên của doanh nghiệp, làm cho doanh nghiệp trở thành một cộng đồng làm việc trên tinh thần hợp tác tin cậy, gắn bó, thân thiện và tiến thủ.