Chương 1: Cơ sở lý luận chung về công tác tạo động lực làm việc cho người lao động. – Chương 2: Thực trạng công tác tạo động lực làm việc cho người lao động tại công ty TNHH miniBreak. – Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tạo động lực làm việc cho người lao động tại Công ty TNHH minibreak. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỘNG LỰC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm nhu cầu Theo Philip Kotler, nhu cầu là những điều cần thiết cơ bản của con người, chẳng hạn như thức ăn, nước uống, không khí, và sự an toàn. Còn theo McClelland, ông định nghĩa nhu cầu là những động lực bên trong thúc đẩy hành vi của con người.
Có thể nói rằng, nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tùy theo trình độ, nhận thức, môi trường sống, ước muốn, mục tiêu hướng tới…mỗi người có những nhu cầu khác nhau. Nhu cầu không chỉ là một khía cạnh của cuộc sống mà nó còn là sợi liên kết cốt lõi giữa con người và sự phát triển của họ trong xã hội. Nhu cầu của con người có thể biến đổi theo thời gian và thay đổi theo mục đích.
Khi nhu cầu không được thỏa mãn, con người rất dễ rơi vào trạng thái căng thẳng, bức bối, thậm chí là bất an đối với cuộc sống xung quanh. Và người lao động cũng vậy. họ cũng muốn được lấp đầy những mong muốn, những khao khát khi làm việc ở một tổ chức, một doanh nghiệp nào đó. Nhu cầu của con người có thể được ra làm hai loại chính: Nhu cầu vật chất và Nhu cầu tinh thần: – Nhu cầu vật chất là nền móng cơ bản để đảm bảo sự tồn tại của con người trên thế giới này.
Những yếu tố như thực phẩm, phương tiện sinh sống như nước, ô xy và nhu cầu bài tiết, quần áo và nơi che chở để bảo vệ và giữ cơ thể ấm áp…chính là nhu cầu vật chất khiến cuộc sống con người trở nên ổn định và bền vững hơn. Chúng được phát triển cùng sự tiến bộ của xã hội. – Nhu cầu tinh thần được nảy sinh trên cơ sở của nhu cầu vật chất và được nhu cầu vật chất nuôi dưỡng. Nó không chỉ là sự ham muốn của con người mà còn là đỉnh cao của sự tiến hóa, sự khao khát không ngừng nghỉ để trở nên tốt đẹp hơn, hoàn thiện hơn.
Khi đã thoả mãn những nhu cầu cơ bản như xe cộ, nhà cửa…, con người lại bắt đầu một hành trình mới, ví dụ như mong muốn được học tập mở rộng kiến thức, mong muốn 1 được mở rộng mối quan hệ xã hội, mong muốn được tôn trọng, mong muốn có vị thế cao trong xã hội… Loại nhu cầu này cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra động lực cho hành vi và khi cảm xúc bị hẫng hụt thì dẫn đến hậu quả gây ra các nhiễu loạn trong hành vi. Mỗi cá nhân khi tham gia vào làm việc trong một tổ chức đều có mong muốn thỏa mãn những nhu cầu của riêng mình. Nếu khi làm việc tại tổ chức các nhu cầu của họ được thỏa mãn họ sẽ tạo ra động lực lao động thúc đẩy họ làm việc hãng say, nhiệt tình hết lòng với công việc, gắn bó lâu dài với tổ chức, nhưng ngược lại nếu nhu cầu không được thỏa mãn họ sẽ không có động lực để phấn đấu làm việc, hiệu quả lao động không cao và có xu hướng ra khỏi tổ chức để tìm nơi làm việc khác mà tại đó nhu cầu của họ được thỏa mãn. Chính vì vậy, trước hết người quản lý phải biết được những mong muốn của NLĐ về công việc tử đó có các biện pháp nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ thì mới có thể tạo ra động lực lao động.
Khái niệm động cơ Động cơ, theo từ điển Tiếng Việt, là là cái có tác dụng chi phối, thúc đẩy con người ta suy nghĩ và hành động. Theo thuyết động cơ tâm lý của Meguire, động cơ được chia ra làm 2 loại, bao gồm yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài. Động cơ do yếu tố bên trong xuất phát từ chính bản thân người đó, từ những nhu cầu hay vấn đề cá nhân mà hị đặt ra và tự quyết định. Trái lại, động cơ do yếu tố bên ngoài ảnh hưởng là những yếu tố xã hội, những mối quan hệ với cộng đồng, có tính tác động và thúc đẩy hành vi con người.
Nhiều nhà nghiên cứu đã tập trung vào các khía cạnh quan trọng của động cơ, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về hành vi và cách thức thúc đẩy con người. Dưới đây là một số khía cạnh chính: – Định hướng hành vi: Mục tiêu của cá nhân là gì? Họ hướng tới điều gì trong hành động của mình? – Cường độ hành động: Mức độ nỗ lực mà cá nhân bỏ ra để thực hiện hành vi như thế nào? – Tính bền bỉ của hành vi: Khả năng duy trì hành vi trong bao lâu? 2 Điều quan trọng cần lưu ý là động cơ không phải là một khái niệm thống nhất mà có thể thay đổi tùy theo từng cá nhân và từng tình huống cụ thể. Khái niệm về động lực - động lực lao động - tạo động lực trong lao động Theo từ điển Tâm lý học “động lực được hiểu là thứ thúc đẩy hành động gắng liền với những việc tỏa mãn nhu cầu của chủ thể, là toàn bộ những nhu cầu bên trong và bên ngoài có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể và xác định tính xu hướng của nó.” Theo từ điển Kinh tế Xã hội Việt Nam “động lực là những nhân tố bên trong kích thích con người làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.” Có rất nhiều khái niệm về động lực được đưa ra nhằm giải thích nguyên nhân thúc đẩy hành vi con người. Tuy nhiên, nhìn chung, ta có thể tóm tắt động lực là những yếu tố nội sinh và ngoại sinh tác động lên con người, khơi gợi lý do và thúc đẩy họ hành động một cách tích cực, hiệu quả, hướng tới những kết quả tốt nhất trong giới hạn tiềm năng của bản thân.
Bùi Anh Tuấn, “động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” [11.85] Vậy nên, động lực lao động mạnh mẽ sẽ khiến người lao động hăng say với công việc, nỗ lực hết mình, nhiệt tình để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đồng thời tìm kiếm giải pháp sáng tạo để nâng cao hiệu quả công việc và đạt được thành tích cao. Theo tác giả Bùi Anh Tuấn, “tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc. Tạo động lực có vai trò vô cùng quan trọng, bởi con người là nhân tố không thể thiếu trong môi trường doanh nghiệp.
Con người có động lực làm việc càng cao thì họ sẽ toàn tâm toàn ý làm việc, cố gắng hoàn thành nhiệm vụ được giao. Các nhà quản trị muốn phát triển doanh nghiệp thì sẽ phải có những chính sách, biện pháp hợp lý, linh hoạt và hiệu quả, để khuyến khích sự hăng say và sáng tạo từ người lao động, để họ phát huy mọi khả năng đóng góp cho tổ chức; các nhà quản trị cần biết được mục đích hướng tới của nhân viên để dự đoán và kiểm soát hành vi của họ. 3 Về cơ bản, tạo động lực cho NLĐ chủ yếu được nhắc tới dưới hai hình thức: tạo động lực thông qua công cụ tài chính và tạo động lực thông qua công cụ phi tài chính. Không có một mô hình hay một hướng giải quyết nhất định để thúc đẩy động lực làm việc, vì mỗi doanh nghiệp hướng tới đối tượng lao động khác nhau và mỗi người lao động lại có nhu cầu khác nhau.
Tuy nhiên, các nhà quản trị đã từng nói “Sự thành bại của công ty thường phụ thuộc vào việc sử dụng hợp lý nhân viên trong doanh nghiệp như thế nào”. Chỉ khi đó, tổ chức mới có thể khai thác được toàn bộ tiềm năng của nhân viên và tiến xa hơn trong tương lai. Mục đích và vai trò của tạo động lực cho người lao động trong doanh nghiệp 1. Mục đích Mục đích làm việc của người lao động là khác nhau và có thay đổi theo thời gian.
Nhiệm vụ của nhà quản trị là hiểu được những mục đích ấy và giải quyết hợp tình hợp lý, sao cho đạt được lợi ích cho nhân viên và doanh nghiệp. Khi người lao động bất mãn với tổ chức, họ sẽ có xu hướng chán nản, mâu thuẫn với mọi người, làm việc lơ là và thậm chí rời bỏ tổ chức. Do đó, để xác định được mong muốn, nhu cầu của nhân viên là một việc không thể thiếu để xây dựng được bộ máy nhân sự vững mạnh. Việc tạo động lực trong lao động không chỉ giúp tăng cường hiệu suất làm việc, người lao động sẽ cảm thấy được động viên và hứng khởi hơn.
Từ đó, họ cũng sẽ làm việc hiệu quả hơn, đồn hết khả năng và tâm sức của mình vào công việc, tạo ra một trường làm việc tích cực, sáng tạo và đổi mới. Nhân viên khi cảm thấy được công nhận thường sẽ gắn bó với doanh nghiệp lâu dài hơn, tạo ra một đội ngũ làm việc đồng lòng và mạnh mẽ. Việc tạo động lực làm việc còn giúp kích thích tính sáng tạo của người lao động, làm việc thoải mái hơn. Từ đó, họ sẽ cảm thấy thoả mãn với kết quả mình đạt được, ngày một hoàn thiện hơn và sẽ luôn có tinh thần học hỏi để có thể làm việc được tốt hơn nữa.
Việc duy trì, khai thác tối ưu nguồn nhân sự tài năng cũng là điều mà bất cứ doanh nghiệp nào cần, để tổ chức phát triển, có lợi thế cạnh tranh, tạo ra sản phẩm và dịch vụ vượt trợi. Nhân viên động viên, tâm huyết và đam mê trong công việc thường sẽ tạo ra sản phẩm chất lượng cao, hình thành nên đội ngũ lao động giỏi từ đó nâng cao hình ảnh của doanh nghiệp trong tâm trí khách hàng, đồng thời thu hút được thêm nhiều nhân tài 4 cho tổ chức.