Chương 1: Tổng quan về rủi ro, đánh giá rủi ro và kiểm soát rủi ro trong kiểm toán BCTC Chương 2: Thực trạng đánh giá rủi ro và kiểm soát rủi ro tại công ty TNHH Tư vấn – Kiểm toán S&S Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quy trình đánh giá và kiểm soát rủi ro trong kiểm toán báo cáo tài chính đối với công ty TNHH Tư Vấn – Kiểm toán S&S Luan van 9 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO VÀ KIỂM SOÁT RỦI RO TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1. TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1. Khái niệm về rủi ro Rủi ro, theo một cách chung nhất, được hiểu đó là những sự kiện xảy ra nằm ngoài ý muốn và thường không có lợi cho chủ thể. Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về rủi ro.
Trong từ điển Oxford của Đại học Cambrige (Anh) định nghĩa: “Rủi ro là một tình huống liên quan đến việc tiếp cận sự nguy hiểm”. Một số từ điển khác cho rằng: “Rủi ro là khả năng hoặc sự đe dọa gây ra thiệt hại, tổn thương, mất mát, trách nhiệm hoặc bất kỳ phát sinh tiêu cực khác xảy ra do các lỗ hổng bên ngoài hoặc nội bộ, và có thể tránh được thông qua các hành động ưu tiên”. Trong lĩnh vực đầu tư, người ta cho rằng rủi ro là khả năng mà việc thu hồi trở lại một khoản đầu tư có giá trị thấp hơn so với kỳ vọng. Trong sản xuất kinh doanh, rủi ro là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Định nghĩa rủi ro trong kiểm toán Lĩnh vực kiểm toán là một lĩnh vực luôn đối mặt với những rủi ro. Rủi ro kiểm toán là hậu quả của nhiều loại rủi ro, do vậy, cần tìm hiểu những nhân tố cấu thành chúng nhằm giảm thiểu rủi ro cho nghề nghiệp cũng như nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán. Rủi ro kiểm toán bị tác động bởi cả những nhân tố nội tại bên trong doanh nghiệp kiểm toán, lẫn các nhân tố bên ngoài, phát sinh do những sự kiện mà doanh nghiệp kiểm toán không thể lường trước được. Luan van 10 Chuẩn mực kiểm toán quốc tế (CMKT) số 200 – Mục tiêu tổng thể của KTV độc lập và thực hiện cuộc kiểm toán theo CMKT quốc tế có đưa ra định nghĩa về rủi ro kiểm toán như sau: “Rủi ro kiểm toán là rủi ro do KTV và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi báo cáo tài chính (BCTC) đã được kiểm toán còn có những sai phạm trọng yếu.
Rủi ro kiểm toán là hệ quả của rủi ro có sai phạm trọng yếu và rủi ro phát hiện”. Chuẩn mực cũng xác định rằng “rủi ro kiểm toán” không bao gồm rủi ro mà KTV có thể đưa ra ý kiến BCTC có sai sót trọng yếu nhưng thực tế BCTC không có sai sót như vậy. Rủi ro này thường không nghiêm trọng. Ngoài ra, “rủi ro kiểm toán” là một thuật ngữ chuyên môn liên quan đến quá trình kiểm toán, không bao hàm rủi ro mà KTV gặp phải trong kinh doanh như bị thua kiện, làm mất uy tín, hoặc các sự kiện khác phát sinh trong mối liên hệ với các cuộc kiểm toán BCTC.
Như vậy, nguyên nhân chính dẫn đến rủi ro kiểm toán là KTV đưa ra nhận xét không đúng về các thông tin trên BCTC của khách hàng, ví dụ, KTV có thể đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần về một BCTC mà không biết rằng BCTC này chứa đựng những sai phạm trọng yếu. Cũng với quan điểm này, SAS 107 do Hội KTV hành nghề Mỹ (AICPA) có hiệu lực từ ngày 15/12/2006 cũng chỉ ra rằng: “Rủi ro kiểm toán là rủi ro mà KTV có thể vô tình thất bại trong việc đưa ra ý kiến phù hợp về một BCTC có sai phạm trọng yếu”. Các sai phạm này có thể là kết quả của sai sót và gian lận trong công tác kế toán như việc bỏ sót các nghiệp vụ, trình bày phân loại không phù hợp với nguyên tắc kế toán, hay bỏ sót các thông tin cần công bố, sai sót trong các ước tính kế toán. Việc đánh giá một sai phạm là trọng yếu dẫn đến ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng, phải bao gồm cả việc xem xét những đặc tính của người sử dụng thông tin, chẳng hạn như: hiểu biết về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được Luan van 11 kiểm toán, hiểu biết về BCTC, ra quyết định trên cơ sở các thông tin trong BCTC.
Để hoạt động kiểm toán được thực hiện một cách hiệu quả, phù hợp với tình hình cụ thể từng quốc gia, mỗi quốc gia đều xây dựng hệ thống chuẩn mực áp dụng tại quốc gia đó. Ở Việt Nam, hoạt động kiểm toán ra đời muộn hơn so với thế giới, việc ban hành các chuẩn mực kiểm toán căn bản được dựa trên nền tảng của chuẩn mực kiểm toán quốc tế. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 – Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ, ban hành năm 2001 quy định về đánh giá rủi ro định nghĩa: “Rủi ro kiểm toán là rủi ro do KTV và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi BCTC đã kiểm toán còn có những sai sót trọng yếu. Rủi ro kiểm toán bao gồm ba bộ phận: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện”.
Hiện nay, tuy chuẩn mực này đã được thay thế bởi chuẩn mực VSA 200 và đã có hiệu lực từ ngày 01/01/2014 nhưng nhìn chung định nghĩa này không có sự khác biệt về mặt bản chất so với định nghĩa về rủi ro kiểm toán trong VSA 200 như sau: “Rủi ro kiểm toán là rủi ro do KTV đưa ra ý kiến kiểm toán không phù hợp khi BCTC đã được kiểm toán còn chứa đựng sai sót trọng yếu. Rủi ro kiểm toán là hệ quả của rủi ro có sai sót trọng yếu (gồm rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát) và rủi ro phát hiện”. Trong mỗi cuộc kiểm toán, rủi ro kiểm toán là điều luôn có khả năng xảy ra, do việc đánh giá rủi ro kiểm toán bị ảnh hưởng bởi quy mô và độ phức tạp của đơn vị được kiểm toán cũng như kinh nghiệm của KTV đối với hiểu biết về đơn vị được kiểm toán cũng như môi trường của nó. Khi việc lập kế hoạch không tốt và thiếu thận trọng khi thực hiện thì rủi ro kiểm toán càng tăng, và ngay cả khi cuộc kiểm toán được lập kế hoạch chu đáo và thực hiện một cách thận trọng thì rủi ro vẫn không biến mất hoàn toàn.
KTV có thể kiểm soát rủi ro thông qua việc thiết kế và thực hiện các thử nghiệm kiểm toán. Các bộ phận cấu thành rủi ro kiểm toán Năm 1983, Hội KTV hành nghề Mỹ (AICPA) đưa ra “mô hình rủi ro kiểm toán” thông qua việc ban hành Báo cáo chuẩn mực kiểm toán (SAS) số 47-“ Rủi ro kiểm toán và mức trọng yếu trong thực hiện kiểm toán” trong khuôn khổ “Các chuẩn mực kiểm toán chung được chấp nhận” ở Mỹ (US GAAS) và yêu cầu KTV áp dụng từ năm 1984. Trước khi SAS 47 ra đời, nhiều KTV đã sử dụng một vài nguyên tắc của mô hình trong thực hành, mặc dù chúng không được ban hành một cách rõ ràng như trong GAAS. Mô hình này yêu cầu KTV phải sử dụng những xét đoán trong việc đánh giá rủi ro và sau đó quyết định những thủ tục cần thực hiện.
Nó cho phép KTV áp dụng trong nhiều tình huống khác nhau trong việc lựa chọn một cách tiếp cận kiểm toán. Mô hình cũng yêu cầu KTV phải có một sự hiểu biết về kiểm soát nội bộ của đơn vị, và kiểm tra tính hữu hiệu của các kiểm soát nếu như KTV kỳ vọng vào chúng trong quá trình xem xét bản chất, thời gian và phạm vi các thử nghiệm chi tiết được tiến hành. Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế IAS 200, rủi ro kiểm toán được cấu thành từ 3 bộ phận: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện. Rủi ro tiềm tàng “Rủi ro tiềm tàng là khả năng cơ sở dẫn liệu của một nhóm giao dịch, số dư tài khoản hay những thông tin thuyết minh có thể chứa đựng sai sót trọng yếu, khi xét riêng rẽ hay tổng hợp lại, trước khi xem xét đến bất kỳ kiểm soát nào có liên quan” (Đại học Kinh tế TPHCM 2001- NXB Thống Kê, Kiểm toán).
Rủi ro tiềm tàng chủ yếu đến từ các yếu tố nội tại của doanh nghiệp, chẳng hạn như việc tính toán phức tạp có thể sai sót nhiều hơn các tính toán đơn giản, khoản mục tiền thường gặp rủi ro mất cắp hơn các khoản mục khác, những tài khoản bao gồm các giá trị phát sinh từ các ước tính kế toán sẽ có rủi Luan van 13 ro sai phạm cao hơn các nghiệp vụ thông thường…Tuy nhiên, các nhân tố bên ngoài đôi khi cũng ảnh hưởng đến rủi ro tiềm tàng, ví dụ như sự phát triển về công nghệ có thể dẫn đến việc lỗi thời của một số sản phẩm cụ thể, làm cho hàng tồn kho có khả năng ghi nhận khống trên BCTC của doanh nghiệp. Tùy thuộc vào bản chất ngành nghề, điều kiện kinh doanh cũng như một số nhân tố khác liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, mỗi doanh nghiệp sẽ có những rủi ro tiềm tàng khác nhau. KTV chỉ có thể đánh giá chứ không thể tác động vào rủi ro tiềm tàng. Rủi ro tiềm tàng được đánh giá trong suốt giai đoạn lập kế hoạch và cập nhật trong suốt quá trình kiểm toán.
Rủi ro kiểm soát “Rủi ro kiểm soát là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, khi xét riêng lẻ hay tổng hợp lại, đối với cơ sở dẫn liệu của một nhóm giao dịch, số dư tài khoản hay thông tin thuyết minh mà kiểm soát nội bộ của đơn vị không thể ngăn chặn hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời.” (Đại học Kinh tế TPHCM 2001- NXB Thống Kê, Kiểm toán) Như vậy, rủi ro kiểm soát thể hiện hiệu quả của việc thiết kế, vận hành và duy trì kiểm soát nội bộ của Ban giám đốc nhằm giải quyết những rủi ro đã xác định có thể cản trở việc hoàn thành các mục tiêu của đơn vị liên quan đến việc lập BCTC. Tuy nhiên, bất kỳ hệ thống kiểm soát nội bộ nào cũng có những hạn chế tiềm tàng, chẳng hạn như khả năng người thực hiện gây ra những nhầm lẫn, sai sót, hoặc một số kiểm soát có thể bị vô hiệu do có sự thông đồng hay lạm dụng quyền của người quản lý.