MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam trong quá trình mở cửa và hội nhập với nền kinh tế thế giới, không chỉ tiếp nhận những cơ hội đầu tƣ mà có đôi khi phải gánh chịu không ít những ảnh hƣởng của nền kinh tế thế giới. Những tƣởng sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008, Việt Nam với những trải nghiệm của ngƣời đi sau sẽ đúc rút bài học cho riêng mình từ đó tránh đƣợc những sai lầm, những hậu quả nghiêm trọng từ sự đỗ vỡ, mất thanh khoản. Thế nhƣng hiện nay với công cuộc tái cơ cấu nền kinh tế nƣớc ta nói chung và tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thƣơng mại Việt Nam nói riêng đã cho thấy một bức tranh rõ nét về các khoản nợ xấu và tình trạng thiếu hụt thanh khoản của hầu hết của tổ chức tín dụng, cùng với đó là sự phá sản của hàng loạt các doanh nghiệp trong thời gian qua.
Có thể thấy những nỗ lực mà Chính phủ thực hiện từ giai đoạn năm 2008 đến năm 2012 nhằm ổn định tính thanh khoản và đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng, từ việc chính sách tiền tệ thắt chặt sang thả lỏng, rồi chuyển sang thắt chặt, kèm theo gói hỗ trợ lãi suất của Chính phủ… đã cho thấy tầm quan trọng của việc quản trị thanh khoản ngân hàng có ý nghĩa hết sức cấp bách cả về lý luận lẫn thực tiễn. Trong thời gian qua, Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Á Châu là ngân hàng phải gánh chịu nhiều thiệt hại nặng nề từ rủi ro thanh khoản và đã phải cần đến sự hỗ trợ của Ngân hàng Nhà nƣớc. Bản thân ngân hàng Á Châu đã trải qua hai đợt khủng hoảng thanh khoản với lần đầu tiên đến từ các thông tin bất lợi liên quan đến dàn lãnh đạo cấp cao và đợt khủng hoảng thanh khoản thứ hai đi từ những chủ quan trong quản trị rủi ro của chính nội bộ ngân hàng, khi phải tất toán các khoản huy động vàng đến hạn. Trong bối cảnh cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ngày càng trở nên gay gắt, cùng với áp lực gia tăng về lợi nhuận, ngân hàng Á Châu luôn phải đối mặt với những rủi ro tiềm ẩn, một trong số đó chính là rủi ro thanh khoản.
2 Thực tiễn cũng đã chứng minh rằng, trong hoạt động của các ngân hàng, khi không chú trọng đến việc quản trị thanh khoản, sẽ dễ dẫn đến khả năng thanh khoản không hợp lý, điều đó có thể dẫn đến việc ngân hàng không có đủ nguồn vốn cần thiết để đáp ứng nhu cầu của thị trƣờng, có thể mất khả năng thanh toán, mất uy tín và dẫn đến sự đổ vỡ của toàn hệ thống. Bằng chứng gần nhất chính là sự sụp đổ của các hệ thống ngân hàng trên thế giới trong vòng ba năm trở lại đây, khởi nguồn từ cuộc khủng hoảng cho vay dƣới chuẩn ở Mỹ. Do vậy, ngân hàng Á Châu cần phải chú trọng đến việc xây dựng chiến lƣợc quản trị thanh khoản một cách khoa học, phù hợp với từng giai đoạn phát triển để phòng ngừa cho mình những rủi ro trong tƣơng lai, từ đó làm tiền đề cho việc phát triển ổn định và bền vững. Vì những lý do trên, ta dễ thấy đƣợc việc nghiên cứu đề tài “HOÀN THIỆN QUẢN TRỊ THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU” là cấp thiết và có khả năng ứng dụng cao.
Mục tiêu nghiên cứu: Hoàn thiện quản trị thanh khoản tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Á Châu. Để đạt đƣợc mục tiêu nghiên cứu này, tác giả lần lƣợt phân tích các câu hỏi sau: - Hệ thống lý luận chung nào áp dụng cho quản trị thanh khoản tại ngân hàng thƣơng mại? - Thực trạng quản trị thanh khoản tại Ngân hàng Á Châu hiện nay nhƣ thế nào? - Những giải pháp cụ thể nào để hoàn thiện quản trị thanh khoản tại Ngân hàng Á Châu? 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: Đối tƣợng nghiên cứu của bài viết là hoàn thiện quản trị thanh khoản tại ngân hàng Á Châu. 3 Phạm vi nghiên cứu của bài viết là phạm vi Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Á Châu, giai đoạn 2010-2013.
Phƣơng pháp nghiên cứu: Bài luận văn sử dụng các phƣơng pháp phân tích là chủ yếu. Tác giả sẽ dùng mô hình EFA- mô hình khám phá nhân tố để tìm ra đƣợc những yếu tố thật sự ảnh hƣớng đến việc quản trị thanh khoản tại ngân hàng Á Châu, từ đó nêu ra những giải pháp để hoàn thiện quản trị thanh khoản cho ngân hàng Á Châu. Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng phƣơng pháp thống kê - mô tả các dữ liệu, từ đó, phân tích, so sánh – đối chiếu với các ngân hàng thƣơng mại khác, đồng thời tham khảo thêm ý kiến, nhận định từ các chuyên gia. Các nguồn số liệu: Số liệu sơ cấp: Thực hiện khảo sát về các nhân tố ành hƣởng đến thực trạng quản trị thanh khoản ở ngân hàng Á Châu.
Số liệu thứ cấp: Báo cáo tài chính năm 2010, 2011, 2012, 2013 của Ngân hàng Á Châu. Kết cấu của đề tài gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1- Cơ sở lý thuyết về quản trị thanh khoản tại các ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2- Thực trạng quản trị thanh khoản tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Á Châu Chƣơng 3- Giải pháp hoàn thiện quản trị thanh khoản tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Á Châu 4 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ THANH KHOẢN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Lý thuyết về thanh khoản 1.1 Khái niệm về thanh khoản Theo hiệp ƣớc Basel III thì thanh khoản là khả năng tiếp cận các khoản tài sản hoặc nguồn vốn có thể dùng để chi trả với chi phí hợp lý ngay khi nhu cầu vốn phát sinh. Một nguồn vốn đƣợc coi là có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh.
Một tài sản đƣợc gọi là có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển hóa thành tiền thấp và có khả năng chuyển hóa ra tiền nhanh. Mishkin: “Thanh khoản của ngân hàng đƣợc xem là khả năng tức thời để đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi và giải ngân các khoản tín dụng đã cam kết”.1 Tính thanh khoản của tài sản Tính thanh khoản của tài sản là khả năng chuyền tài sản đó thành tiền, đƣợc đo bằng chi phí và thời gian đề chuyển tài sản thành tiền. Thời gian và chi phí càng cao thì tính thanh khoản của tài sản càng thấp và ngƣợc lại. Tuy nhiên trong nhiều trƣờng hợp muốn bán nhanh đƣợc một tài sản tức là muốn chuyển đổi tài sản đó nhanh thành tiền thì chi phí lại lớn.
Điều này cho ta thấy tính thanh khoản của một tài sản phụ thuộc nhiều nhân tố và có thể thay đổi theo thời gian giữa các vùng các nƣớc. Các ngân hàng khác nhau thì nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản khác nhau. Kết cấu tài sản với tính chất thanh khoản khác nhau tạo nên tính thanh khoản của danh mục tài sản và đƣợc đo bằng tỷ lệ của các tài sản có tính thanh khoản cao trên tổng tài sản (hoặc trên tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng).2 Tính thanh khoản của nguồn 5 Để hình thành nên các tài sản của mình, ngân hàng cần phải huy động vốn. Khả năng huy động vốn của ngân hàng sẽ góp phần tạo nên khả năng thanh khoản của ngân hàng.
Tính thanh khoản của nguồn đƣợc đo bằng thời gian và chi phí để mở rộng nguồn khi cần thiết. Chi phí và thời gian càng thấp thì tính thanh khoản của nguồn càng cao. Tính thanh khoản của nguồn còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố nhƣ sự phát triển của thị trƣờng tài chính, sự gia tăng thu nhập của dân cƣ và tính nhạy cảm của nguồn đối với lãi suất.3 Tính thanh khoản của ngân hàng Tính thanh khoản của ngân hàng là khả năng của ngân hàng trong việc đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách, đƣợc tạo lập bởi tính thanh khoản của tài sản và tính thanh khoản của nguồn. Một ngân hàng có tính thanh khoản cao khi có nhiều tài sản thanh khoản hoặc có khả năng mở rộng nguồn nhanh với chi phí thấp hoặc cả hai phù hợp với nhu cầu thanh khoản.2 Một số đặc điểm của thanh khoản 1.1 Mối quan hệ giữa thanh khoản và sinh lời Trong hoạt động của ngân hàng thì việc duy trì thanh khoản đáp ứng khả năng chi trả, thanh toán là mục tiêu vô cùng quan trọng.
Nếu để rủi ro thanh khoản xảy ra thì ở mức nhẹ là làm ngân hàng suy giảm lợi nhuận, còn nặng có thể dẫn đến phá sản. Nhƣng để duy trì khả năng thanh khoản của ngân hàng thì ngân hàng phải chấp nhận một khoản chí phí. Để tăng an toàn thanh khoản thì chi phí cũng gia tăng và có thể làm suy giảm lợi nhuận. Vì vậy trong quá trình quản lý thanh khoản cần phải dự đoán đƣợc các nguy cơ thanh khoản và tổn thất có thể xảy ra nhằm có những biện pháp đảm bảo khả năng chi trả của ngân hàng với chi phí hợp lý nhất.2 Cung và cầu và trạng thái thanh khoản Cung thanh khoản chính là khả năng cung ứng tiền của một ngân hàng thƣơng mại nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng, bao gồm việc giữ 6 tài sản và khả năng huy động mới.
Nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng bao gồm: Các khoản tiền gửi sẽ nhận đƣợc; Thu nhập từ việc cung cấp các dịch vụ; Các khoản tín dụng sẽ thu về; Bán các tài sản đang kinh doanh và sử dụng; Vay mƣợn từ thị trƣờng tiền tệ Cầu về thanh khoản là nhu cầu thanh toán của khách hàng của ngân hàng mà ngân hàng có nghĩa vụ đáp ứng. Cầu thanh khoản bao gồm yêu cầu chi trả và vay hợp pháp của các khách hàng. Trong lĩnh vực ngân hàng, những hoạt động sau đây tạo ra nhu cầu về thanh khoản: Khách hàng rút các khoản tiền gửi; Đề nghị vay vốn hợp pháp của khác hàng; Trả lãi cho các khoản tiền gửi và vay; Thanh toán cho các khoản phải trả khác; Chi phí cho quá trình tạo ra sản phẩm và dịch vụ ngân hàng; Thanh toán cổ tức cho các cổ đông Trong cầu thanh khoản có hai bộ phận quan trọng đối với ngân hàng đó là: nhu cầu rút tiền và nhu cầu vay tiền của khách hàng. Trong đó nhu cầu rút tiền gắn liền với tiền huy động đƣợc, còn nhu cầu vay tiền của khách hàng gắn liền với việc tạo ra các sản phẩm mới.
Trạng thái thanh khoản: Ở bất kỳ thời điểm nào, các nguồn cung và nhu cầu thanh khoản đến cùng một lúc và tạo thành trang thái thanh khoản ròng (Net Lquidity Position).