CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ NỘI BỘ DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về quản trị nội bộ doanh nghiệp Quản trị nội bộ (Internal Management) là một chủ đề phổ biến trong lĩnh vực quản trị doanh nghiệp, và rất nhiều tài liệu từ các nguồn hàn lâm cũng như thực tiễn có thể làm sáng tỏ định nghĩa và tầm quan trọng của khái niệm này. Trong tài liệu Managament: Leading & Collaborating in a Competitive World của Bateman & Snell có định nghĩa về khái niệm này như sau: “Quản trị nội bộ (Internal Management) là quá trình tổ chức điều hành và kiểm soát các hoạt động bên trong của một tổ chức hoặc công ty nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động và các hoạt động này đạt được hiệu suất cao nhất. Quản trị nội bộ bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến như lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát tất cả các nguồn lực của tổ chức như con người, tài chính, công nghệ và thông tin.
Mục tiêu của quản trị nội bộ là đảm bảo rằng các mục tiêu chiến lược và hoạt động của tổ chức được thực hiện một cách hiệu quả và hiệu suất cao.” Trong đó, quá trình quản trị nội bộ bao gồm các khía cạnh như: + Lập kế hoạch (Planning): Trong đó nhà quản trị cần thiết lập các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn cho tổ chức, phát triển chiến lược và đưa ra các chiến lược, kế hoạch để đạt được các mục tiêu đã đề ra. Tìm cách phân bổ nguồn lực như nhân sự, tài chính, công nghệ để có thể thực hiện kế hoạch. + Kiểm soát (Controlling): Việc kiểm soát bao gồm giám sát và đánh giá, theo dõi tiến độ và đánh giá hiệu suất của các hoạt động và nhân viên. Thực hiện các biện pháp điều chỉnh khi cần thiết để đảm bảo các hoạt động diễn ra đúng theo kế hoạch, đồng thời đánh giá kết quả để rút kinh nghiệm và cải tiến quy trình.
+ Lãnh đạo (Leading): Sử dụng các kĩ thuật và phương pháp phù hợp để động viên và khuyến khích nhân viên. Nhà quản lý cũng cần áp dụng các phong cách lãnh đạo phù hợp để hướng dẫn và hỗ trợ nhân viên. Cải thiện sự giao tiếp trong bộ máy hoạt động để đảm bảo thông tin được truyền đạt rõ ràng và hiệu quả trong tổ chức. 8 + Tổ chức (Organizing): Thiết lập cấu trúc tổ chức để xác định vai trò, trách nhiệm và mối quan hệ báo cáo.
Phân chia công việc thành các nhiệm vụ cụ thể và rõ ràng để nâng cao hiệu quả và chuyên môn hóa. Đảm bảo sự phối hợp giữa các bộ phận và nhân viên nhịp nhàng để có thể đạt được mục tiêu chung đã đề ra trong tổ chức. Cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ 1. Định nghĩa về kiểm soát nội bộ Kiểm soát nội bộ là khái niệm bắt đầu dần được định hình và biết đến từ thế kỉ thứ 20, trong suốt khoảng thời gian từ đó đến nay, KSNB được nhắc đến với nhiều định nghĩa khác nhau.
Viện kiểm toán viên nội bộ (Institute of Internal Auditors) nêu định nghĩa KSNB là một quá trình trong một tổ chức được thiết kế để cung cấp sự bảo đảm hợp lý về các mục tiêu chính của doanh nghiệp là: (i) độ tin cậy và trung thực của thông tin, (ii) tuân thủ các chính sách, kế hoạch, thủ tục, pháp luật và quy định, (iii) bảo vệ tài sản, (iv) sử dụng tài nguyên kinh tế và hiệu quả và (v) hoàn thành các mục tiêu và mục đích đã được thiết lập về các hoạt động kinh doanh hoặc các chương trình. Theo Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC - International Federation of Accountants), KSNB được định nghĩa là một phần không thể thiếu trong hệ thống quản lý và khả năng quản lý rủi ro của tổ chức, mà hệ thống này được hiểu, chịu ảnh hưởng và được giám sát tích cực bởi bộ phận quản lý, nhà quản lý và nhân viên khác để tận dụng các cơ hội và ứng phó với các mối đe dọa để đạt được các mục tiêu của tổ chức. Viện Kế toán Công chứng Canada (CICA - Canadian Institute of Chartered Accountants) nêu định nghĩa KSNB là kế hoạch của tổ chức và tất cả các hệ thống phối hợp được thiết lập bởi nhà quản lý của một tổ chức để đạt được mục tiêu quản lý về đảm bảo càng nhiều càng tốt việc thực hiện hoạt động kinh doanh có trật tự và hiệu quả. Trong đó, định nghĩa phổ biến nhất và được thừa nhận do Hội đồng các Tổ chức Tài trợ Ủy ban Treadway (COSO - The Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commission) ban hành thì: “KSNB là một quá trình, chịu ảnh hưởng bởi ban giám đốc, quản lý và nhân viên khác của tổ chức, được thiết kế để cung cấp "sự đảm bảo hợp lý" về việc đạt được các mục tiêu liên quan đến hoạt động, báo cáo và tuân thủ”.
9 Theo quy định của Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA), KSNB là các quy định và các thủ tục kiểm soát do đơn vị xây dựng và áp dụng nhằm bảo đảm cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các quy định để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót để lập báo cáo tài chính trung thực và hợp lý, nhằm bảo vệ, quản lý và sự dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị. Tóm lại, khái niệm kiểm soát nội bộ của COSO là khái niệm được chấp nhận khá rộng rãi. Nhiều nhà nghiên cứu và các tổ chức đã sử dụng và dựa trên khái niệm này trong các nghiên cứu. Chính vì vậy, KSNB theo quan điểm của COSO là cơ sở lý thuyết trong nghiên cứu kiểm soát nội bộ của tác giả.
Trong định nghĩa có nhấn mạnh đến bốn yếu tố quan trọng đó là: con người, quá trình, đảm bảo tính hợp lý và mục tiêu chính của KSNB là một quá trình: kiểm soát nội bộ bao gồm một chuỗi hoạt động kiểm soát được thiết kế, xây dựng và vận hành ở mọi bộ phận của doanh nghiệp và được kết hợp với nhau thành một thể thống nhất giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu chung đã đề ra. - KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người: KSNB được vận hành và sử dụng bởi con người trong tổ chức, bởi suy nghĩ và hành động của họ. Chính con người đặt ra mục tiêu, thiết lập cơ chế và vận hành nó. Tuy nhiên, con người không phải lúc nào cũng hiểu rõ, trao đổi và hành động một cách nhất quán.
Trong một tổ chức doanh nghiệp bao gồm: Hội đồng quản trị, Ban lãnh đạo, các trưởng phòng, nhân viên,… do đó mỗi thành viên trong một tổ chức đều có kiến thức và kinh nghiệm khác nhau nên để hệ thống KSNB hoạt động hiệu quả thì đòi hỏi các thành viên phải hiểu rõ trách nhiệm và quyền hạn của mình. - Đảm bảo tính hợp lý: Kiểm soát nội bộ dù có được thiết kế hoàn hảo đến cỡ nào thì nó cũng chỉ đủ để cung cấp sự đảm bảo hợp lý cho nhà quản lý trong việc thực hiện mục tiêu chứ không cung cấp sự đảm bảo tuyệt đối. Nguyên nhân này xuất phát từ những hạn chế tiềm tàng trong quá trình xây dựng và vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ như: sai lầm của con người, sự thông đồng của các cá nhân trong tổ chức, sự lạm quyền của nhà quản lý, … - Đạt mục tiêu: Khi xây dựng và thiết kế kiểm soát nội bộ thì người quản lý nên hướng nó vào mục tiêu chung của toàn bộ tổ chức thì việc kiểm soát nội bộ mới đạt hiệu quả cao. 10 Mục tiêu đó có thể là mục tiêu chung của toàn đơn vị hay chia nhỏ ra thành mục tiêu cụ thể cho từng đơn vị.
Theo báo cáo của COSO, có thể chia các mục tiêu kiểm soát ra thành 3 nhóm: mục tiêu về hoạt động, mục tiêu về báo cáo và mục tiêu về tuân thủ. + Đảm bảo đạt được các mục tiêu hoạt động: liên quan đến những mục tiêu kinh doanh cơ bản của tổ chức, bao gồm những mục tiêu có khả năng sinh lời,mục tiêu bảo vệ nguồn lực và đạt các mục tiêu chiến lược hay các mục tiêu hiệu quả. + Đảm bảo mục tiêu về báo cáo: Ở đây doanh nghiệp phải đảm bảo tính trung thực và đáng tin cậy của báo cáo tài chính và các mục tiêu tài chính phân bố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. + Đảm bảo sự tuân thủ: Kiểm soát nội bộ doanh nghiệp cần phải tuân thủ đúng theo quy định pháp luật và quy chế của doanh nghiệp.
Phân loại kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp a. Phân loại theo mục tiêu - Kiểm soát phòng ngừa (Preventive Controls): Kiểm soát phòng ngừa được thiết kế ngăn chặn các sự cố hoặc sai sót xảy ra và thường được tiến hành trước khi nghiệp vụ xảy ra. Kiểm soát phòng ngừa thường được thực hiện ngay trong công việc hàng ngày của nhân viên theo chức năng của họ: phân chia trách nhiệm, giám sát, kiểm tra tính hợp lý, sự đầy đủ, chính xác. - Kiểm soát phát hiện (Detective Controls): Kiểm soát phát hiện được thiết kế nhằm phát hiện và thông báo các sai phạm hoặc các điều kiện dẫn đến sai phạm.
Kiểm soát thường được thực hiện sau khi nghiệp vụ xảy ra như các công việc đối chiếu cuối kỳ. Kiểm soát phát hiện và kiểm soát phòng ngừa có quan hệ bổ xung cho nhau trong việc thực hiện các mục tiêu kiểm soát. Thế mạnh của kiểm soát phòng ngừa là ngăn chặn các sai phạm trước khi xảy ra do đó giảm được thiệt hại. Nhưng không có thủ tục nào giảm được rủi ro xuống bằng không và đôi khi chi phí cho kiểm soát phòng ngừa trong nhiều trường hợp rất cao.
Khi đó, kiểm soát sẽ giúp phát hiện sai phạm lọt lưới của kiểm soát phòng ngừa, nó góp phần làm tăng sự chú ý và trách nhiệm của nhân viên trong quá trình thực hiện kiểm soát phòng ngừa. 11 - Kiểm soát sửa chữa (Corrective Controls): Là kiểm soát giúp sửa chữa các sai sót hoặc sự cố đã được phát hiện b. Phân loại theo phạm vi kiểm soát - Kiểm soát chung: là các thủ tục chính sách được áp dụng cho tất cả các hoạt động. Kiểm soát chung có ảnh hưởng quan trọng tới các kiểm soát trực tiếp.
Nếu kiểm soát chung tốt có thể hạn chế được những yếu kém của kiểm soát trực tiếp, làm cho kiểm soát trực tiếp đạt hiệu quả cao hơn. Ngược lại, nếu kiểm soát chung yếu kém thì cần bổ xung bằng hoạt động kiểm soát tốt hơn. - Kiểm soát ứng dụng là các hoạt động kiểm soát được áp dụng cho từng hoạt động cụ thể.