Chương I: Tổng quan đề tài nghiên cứu Chương II: Cơ sở lý thuyết Chương III: Phương pháp nghiên cứu Chương IV: Kết quả nghiên cứu Chương V: Kết luận và hàm ý quản trị 4 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Khái niệm về nguồn nhân lực 2. Nhân lực Theo tài liệu học tập Quản trị nhân lực của Trường đại học kinh tế - kỹ thuật công nghiệp – Khoa Quản trị kinh doanh (2019) Xét trên phương diện cá nhân con người thì nhân lực được hiểu là nguồn lực nội tại trong mỗi con người mà họ có thể cống hiến cho tổ chức, bao gồm thể lực và trí lực. Thể lực chỉ sức khỏe của thân thể, biểu hiện bằng sức vóc, tình trạng sức khỏe.
Thể lực của mỗi người là khác nhau, phụ thuộc vào tuổi tác, giới tính, thời gian công tác, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế, … Trí lực chỉ sự suy nghĩ, hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách … của từng con người. Trong SX kinh doanh truyền thống, thể lực của con người dường như luôn được khai thác triệt để, thậm chí đến mức cạn kiệt, nhưng sự khai thác các tiềm năng về trí lực của con người ở mức mới mẻ, chưa bao giờ cạn kiệt, vì đây là kho tàng còn nhiều bí ẩn của mỗi con người. Xét trên phương diện một tổ chức là nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó. Khi xem xét đến nhân lực của một tổ chức, ta có thể xem xét trên hai góc độ chính.
Số lượng nhân lực được đánh giá thông qua các chỉ số quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực. Sự tăng trưởng này quan trọng để đáp ứng nhu cầu công việc và phát triển của tổ chức. Chất lượng nhân lực được biểu hiện qua thể lực, trí lực, tinh thần, thái độ, động cơ và ý thức lao động. Chất lượng lao động không chỉ liên quan đến trình độ kỹ năng và phẩm chất cá nhân mà còn liên quan chặt chẽ đến ý thức, tinh thần, và đạo đức lao động.
Ba yếu tố thể lực, trí lực và tinh thần đều góp phần xây dựng chất lượng nhân lực của tổ chức, trong đó thể lực đóng vai trò cơ bản, là nền tảng 5 cho sự phát triển của trí tuệ và là phương tiện để truyền đạt kiến thức và trí tuệ vào các hoạt động thực tế. Có thể nói rằng nhân lực của DN là toàn bộ khả năng lao động mà DN có thể huy động được cho việc thực hiện các mục tiêu đã định. Nó gần nghĩa với sức mạnh của lực lượng lao động trong DN. Để có nhân lực đảm bảo số lượng, chất lượng sử dụng, không ngừng phát triển nhân lực, các tổ chức cần phải quản trị mang tính chuyên nghiệp và khoa học, áp dụng nhiều các thành tựu khoa học.
Dựa trên nghiên cứu từ tài liệu quản trị nhân lực của Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp, tác giả chọn khái niệm “Nâng cao chất lượng nhân lực” để thực hiện nghiên cứu. Vì “Chất lượng nhân lực” đã được định nghĩa chi tiết, rõ ràng trong tài liệu, bao gồm thể lực, trí lực, tinh thần, thái độ, động cơ và ý thức lao động; thể hiện sự liên kết cụ thể các yếu tố như thể lực, trí lực, và tinh thần đều được đưa ra làm cơ sở cho xây dựng chất lượng nhân lực. Sự kết hợp giữa ba yếu tố này quyết định chất lượng và khả năng huy động lao động trong DN; tài liệu nêu rõ về việc quản trị chuyên nghiệp và khoa học là cần thiết để đảm bảo số lượng, chất lượng và phát triển liên tục của nhân lực; quan điểm rằng “Nhân lực của doanh nghiệp là toàn bộ khả năng lao động” phản ánh xu hướng hiện đại về quản trị NNL, chú trọng không chỉ vào số lượng mà còn vào chất lượng và sự phát triển. Với việc chọn khái niệm này, tác giả có thể tập trung vào cải thiện và quản lý các yếu tố như thể lực, trí lực, và tinh thần để nâng cao chất lượng nhân lực trong tổ chức.
Nguồn nhân lực Cho đến nay, do xuất phát từ cách tiếp cận khác nhau, nên vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau khi nói về khái niệm NNL. Theo Nick Moore (1980) “Nguồn nhân lực cần được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động” 6 Theo Liên hợp quốc (2000): “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế, hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng” Theo Nguyễn Tiệp (2008): “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội” Theo nghĩa rộng, NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Do đó, nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường. Theo nghĩa hẹp, NNL là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động.
NNL được biểu hiện trên hai mặt. Về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ. Về chất lượng, đó là sức khỏe và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của NLĐ. Nguồn lao động là tổng số những người trong độ tuổi lao động quy định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm.
Nguồn lao động cũng được hiểu trên mặt số lượng. Như vậy, có một số được tính là NNL nhưng lại không phải là nguồn lao động, đó là những người không có việc làm nhưng không tích cực tìm kiếm việc làm, tức là những người không có nhu cầu tìm việc làm, những người trong độ tuổi lao động quy định nhưng đang đi học. Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một “tài nguyên đặc biệt”, một nguồn lực của sự phát triển kinh tế. Bởi vậy, việc phát triển con người, phát triển nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực.
7 Chăm lo đẩy đủ đến con người là yếu tố bảo đảm chắc chắn nhất cho sự phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia. Đầu tư cho con người là đầu tư có tính chiến lược, là cơ sở nền tảng cho sự phát triển bền vững. Tác giả chọn khái niệm “Phát triển nguồn nhân lực” để thực hiện nghiên cứu về hoạt động cải thiện NNL bởi vì khái niệm này đa chiều và toàn diện, bao gồm cả khía cạnh số lượng và chất lượng của NNL, nhấn mạnh vào việc phát triển cả về sức khỏe, kiến thức, năng lực và phẩm chất của con người; phản ánh được xu hướng hiện đại rằng con người được xem là một “tài nguyên đặc biệt” và phát triển con người là yếu tố trung tâm cho sự phát triển kinh tế. Sự đầu tư chiến lược vào con người là cơ sở nền tảng cho sự phát triển bền vững; chăm sóc và phát triển NNL không chỉ là một hoạt động cần thiết ngay trong hiện tại mà còn là một chiến lược có tính bền vững, đảm bảo sự phát triển cho DN; sự phát triển của NNL có thể liên kết chặt chẽ với các hoạt động quản lý nhân sự, đào tạo và phát triển nhân lực, nhằm đảm bảo sự linh hoạt và thích ứng với môi trường làm việc thay đổi; tập trung vào phát triển tri thức, kiến thức và phẩm chất của NLĐ, hỗ trợ nâng cao chất lượng và hiệu suất làm việc của họ.
Việc chọn khái niệm “Phát triển nguồn nhân lực” sẽ giúp tác giả nghiên cứu một cách toàn diện và chiến lược về cách cải thiện và tối ưu hóa NNL trong môi trường làm việc hiện đại. Khái niệm về quản trị nguồn nhân lực Các DN đều có các nguồn lực, bao gồm tiền bạc, vật chất, thiết bị và con người cần thiết tạo ra hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đưa ra thị trường. Hầu hết các DN đều xây dựng các thủ tục và quy trình về cung cấp nguyên vật liệu và thiết bị nhằm đảm bảo việc cung cấp đầy đủ chúng khi cần thiết. Tương tự như vậy, các DN cần phải quan tâm đến quy trình quản lý con người, một nguồn lực quan trọng của họ.
Tác giả Trần Kim Dung (2011) cho rằng: “Quản trị nguồn nhân lực được xem là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo phát triển và duy trì con người bằng sự đã ngộ về tinh thần, vật chất của một tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tổ chức lẫn nhân viên”. 8 Quản trị NNL bao gồm tất cả những quyết định và hoạt động quản lý có ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa DN và đội ngũ nhân viên của DN. Mục tiêu chủ yếu của quản trị NNL là nhằm đảm bảo đủ số lượng NLĐ với mức trình độ và kỹ năng phù hợp, bố trí họ vào đúng công việc, và vào đúng thời điểm để đạt được các mục tiêu của DN. Như vậy, các nhà quản lý trong DN sẽ phụ trách quản trị nhân sự trong quản lý DN.
Quản trị NNL là đảm bảo có đúng người với kỹ năng và trình độ phù hợp, vào đúng công việc và vào đúng thời điểm thích hợp để thực hiện mục tiêu của DN. Nhưng dù ở bất cứ xã hội nào vấn đề mấu chốt của quản trị vẫn là quản trị NNL. Một DN dù có nguồn tài chính dồi dào, nguồn tài nguyên vật tư phong phú, hệ thống máy móc thiết bị hiện đại đi chăng nữa cũng sẽ trở nên vô ích, nếu không biết hoặc quản trị kém nguồn tài nguyên nhân sự. Chính cung cách quản trị tài nguyên nhân sự này tạo ra bộ mặt văn hóa của tổ chức, tạo ra bầu không khí có sự đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau hay lúc nào cũng căng thẳng bất ổn định.