Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục Thuế thành phố Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam. Chương 3: Một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục Thuế thành phố Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam 6. Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong những năm gần đây đã có khá nhiều luận văn nghiên cứu về vấn đề này, tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và trực tiếp về công tác quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục thuế thành phố Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam.
Và để thực hiện các mục tiêu đã nêu trên, cần có nguồn thông tin thiết thực liên quan và tiến hành nghiên cứu một cách khoa học. Do đó tác giả đã tích cực tìm hiểu, tiến hành thu thập thông Luan van 5 tin, tham khảo các công trình, luận văn khoa học có nội dung tương tự đã được công nhận để tiến hành nghiên cứu nhằm tìm ra nền tảng cho quá trình hoàn thành luận văn: - Lương Thị Minh Kiều (2015), Hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục thuế quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, trường Đại học Đà Nẵng. Luận văn đã nêu lên được các lý luận cơ bản về công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp, hệ thống một cách đầy đủ những nhân tố tác động đến công tác quản lý thuế TNDN. Luận văn cũng đã đưa ra được quy trình của công tác lập và thực hiện dự toán thu thuế TNDN; quy trình đăng ký thế, kê khai, ấn định thuế; quy trình công tác hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, gia hạn thuế TNDN; quy trình quản lý nợ; kiểm tra thuế; từ đó có những đánh giá nhận xét cụ thể, xác thực về thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục thuế quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng và đưa ra được một số giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian tới.
- Lê Thị Mỹ Linh (2015), Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, trường Đại học Đà Nẵng. Tác giả đã có những đánh giá, phân tích sâu sát thực trạng công tác quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng trong 5 năm 2009 - 2013. Sử dụng chủ yếu các phương pháp nghiên cứu: thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp để giải quyết vấn đề đặt ra, đề tài đã tập trung hệ thống hóa lý luận về công tác quản lý thu thuế thu nhập doanh nghiệp, đánh giá cụ thê thực trạng tại địa bàn quận Ngũ Hành Sơn trong những năm vừa qua, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng trong thời gian đến. Tuy nhiên luận văn còn chưa đưa ra được những chỉ tiêu để đánh giá kết quả quản lý thuế TNDN trên địa bàn quận Ngũ Luan van 6 Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.
Đây là một nội dung quan trọng cần thiết mà luận văn còn hạn chế. - Trần Thị Nụ (2015), Hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục thuế thành phố Buôn Ma Thuộc, tỉnh Đắc Lắk, trường Đại học Đà Nẵng. Tác giả đã hệ thống hóa được các vấn đề về lý thuyết cơ bản công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp, đưa ra được các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý thuế TNDN và nêu ra được các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế TNDN. Bên cạnh đó đề tài cũng đã đánh giá một cách cụ thể thực trạng tổ chức bộ máy cũng như công tác quản lý thuế TNDN tại Chi cục thuế thành phố Buôn Ma Thuộc, tỉnh Đắc Lắk trong 3 năm 2013 – 2015.
Từ đó cho thấy những hạn chế, khó khăn và phân tích được những nguyên nhân cũng như tồn tại trong công tác quản lý thuế TNDN tại đơn vị. Đề tài đã đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế TNDN tại tại Chi cục thuế thành phố Buôn Ma Thuộc, tỉnh Đắc Lắk. Luận văn được thực hiện trên cơ sở kế thừa những kết quả của các nghiên cứu trước đó, đồng thời đánh giá một cách khách quan thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục thuế thành phố Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn 2014-2016, kết quả đạt được cũng như những tồn tại hạn chế của đơn vị và chỉ ra được nguyên nhân cụ thể. Từ đó khuyến nghị các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý.
Các giải pháp được đề xuất hy vọng sẽ góp phần phát huy tính chủ động, sáng tạo của đơn vị, tạo lập môi trường tài chính lành mạnh và có tính ứng dụng cao trong việc quản lý tốt hơn nữa công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục thuế thành phố Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới. Điểm mới của luận văn so với các công trình nghiên cứu trước đây đó là công trình được nghiên cứu một cách toàn diện, trên cơ sở khoa học về thực Luan van 7 trạng công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục thuế thành phố Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam. Đồng thời đề ra một số các giải pháp vừa có tính cấp bách trước mắt, vừa có tính chiến lược lâu dài nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp trên địa bàn thành phố; nhằm mục tiêu nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả quản lý thuế của nhà nước, phục vụ tốt hơn nhu cầu và lợi ích nhân dân, thúc đẩy phát triển KT- XH ở tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới. Luan van 8 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1.
TỔNG QUAN VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế thu nhập doanh nghiệp xuất hiện rất sớm trong lịch sử phát triển của thuế. Hiện nay ở các nước phát triển, thuế thu nhập doanh nghiệp giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo ổn định nguồn thu ngân sách Nhà nước và thực hiện phân phối thu nhập. Mức thuế cao hay thấp áp dụng cho các chủ thể thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là khác nhau, điều đó phụ thuộc vào quan điểm điều tiết thu nhập và mục tiêu đặt ra trong phân phối thu nhập của từng quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.
Thuế thu nhập doanh nghiệp ra đời bắt nguồn từ các lý do chủ yếu sau: - Thuế thu nhập doanh nghiệp ra đời bắt nguồn từ yêu cầu thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội. - Sự ra đời của thuế thu nhập doanh nghiệp xuất phát từ nhu cầu tài chính của Nhà nước. Ở Việt Nam, tiền thân của thuế thu nhập doanh nghiệp là thuế lợi tức được áp dụng vào trước những năm 90 của thế kỷ XX và áp dụng cho các cơ sở kinh tế ngoài quốc doanh (các cơ sở kinh tế quốc doanh áp dụng chế độ trích nộp lợi nhuận). Từ năm 1990, Quốc hội ban hành luật thuế Lợi tức áp dụng thống nhất chung đối với tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế.
Thuế lợi tức được thu dựa trên cơ sở lợi nhuận thu được trong quá trình sản xuất kinh doanh của đối tượng nộp thuế. Để đáp ứng tình hình phát triển mới của đất nước và khắc phục những hạn chế của những luật thuế trước đó, ngày 10/5/1997, Quốc hội đã thông qua luật thuế TNDN, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1999. Ngày Luan van 9 17/6/2003, Quốc hội đã thông qua luật thuế TNDN sửa đổi có hiệu lực từ ngày 01/01/2004. Ngày 3/6/2008 Quốc hội đã ban hành luật thuế TNDN mới (sau đây gọi là luật thuế TNDN năm 2008) có hiệu lực kế từ ngày 01/01/2009.
Thuế Thu nhập doanh nghiệp là một sắc Thuế trong hệ thống Thuế của Việt Nam. Loại Thuế này đã được hầu hết các quốc gia trên thế giới áp dụng vì nó mang lại hiệu quả cao và bao quát được nguồn thu. Có thể đưa ra khái niệm về thuế TNDN như sau: Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu, thu vào phần thu nhập của các tổ chức kinh doanh nhằm đảm bảo sự đóng góp công bằng, hợp lý giữa các tổ chức sản xuất kinh doanh, hàng hóa, dịch vụ có thu nhập, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển. Đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp - Thuế TNDN đánh vào thu nhập chịu thuế của các cơ sở kinh doanh nên nó phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của các DN hoặc các nhà đầu tư.
Thuế TNDN được xác định trên cơ sở thu nhập chịu thuế, nên chỉ khi các DN, các nhà đầu tư kinh doanh có lợi nhuận mới phải nộp thuế. - Mặc dù là thuế trực thu, tuy nhiên thuế TNDN thường không sử dụng thuế suất lũy tiến mà sử dụng thuế suất đồng nhất. Mức thuế khác nhau có thể được áp dụng đối với các nhóm đối tượng hoặc một số loại thu nhập khác nhau vì mục tiêu chính sách. - Thuế TNDN được xem là thuế khấu trừ trước thuế TNCN.
Thu nhập mà các cá nhân nhận được từ hoạt động đầu tư như: lợi tức cổ phần, lãi tiền gửi ngân hàng, lợi nhuận do góp vốn kinh doanh, liên kết là phần thu nhập được chi sau khi nộp thuế TNDN. Thông qua việc thu thuế TNDN, các chính phủ có thể giảm bớt được chi phí quản lý thu và hạn chế được nhiều rủi ro so với thuế thu nhập cá nhân. Do vậy, thuế TNDN cũng có thể được coi là một biện pháp quản lý TNCN. Luan van 10 - Trong quy định pháp luật về thuế TNDN thường lồng ghép, thiết kế các chính sách khuyến khích, ưu đãi thuế vì các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội hoặc tham gia giải quyết các vấn đề xã hội.
Đặc biệt, các ưu đãi thuế TNDN để thu hút đầu tư vào các vùng khó khan, khuyến khích phát triển các lĩnh vực theo hướng, cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài thường được thể hiện trong các chính sách thuế TNDN ở nhiều quốc gia trên thế giới.