CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THUẾ TNCN 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế TNCN a. Khái niệm về thuế TNCN Thuế TNCN đã có lịch sử hàng trăm năm và hiện nay đã trở thành loại thuế phổ biến trên thế giới.
Có thể nói đối với hầu hết các quốc gia Thuế TNCN được xem như là “vua” của các loại thuế. Không chỉ bởi nguồn thu khổng lồ của nó trong tổng ngân sách để phục vụ cho việc vận hành bộ máy hành chính nhà nước, đảm bảo an ninh quốc gia, chính sách xã hội mà sự ra đời của sắc thuế TNCN còn góp phần quan trọng trong việc điều tiết phân phối lại thu nhập trong xã hội trên cơ sở xem xét đến hoàn cảnh cụ thể của NNT. Cho đến nay trên khắp thế giới đã có khoảng 180 nước áp dụng Thuế TNCN. Trong đó, quốc gia đầu tiên áp dụng Thuế TNCN là Hà Lan năm 1797, sau đó là Anh vào năm 1799, Phổ vào năm 1808.
Mỹ bắt đầu áp dụng thuế TNCN vào năm 1864. Các nước Châu Âu như Úc, Niu Dilân, và Nhật Bản áp dụng các loại thuế thu nhập thường xuyên vào nửa cuối Thế kỷ 19. Tại các nước Châu Á: Thái Lan bắt đầu áp dụng năm 1939, Philippin năm 1945, Hàn quốc năm 1948, Indonesia năm 1949, Trung quốc năm 1984; Các nước Đông Âu mới áp dụng như Rumani năm 1990, Nga năm 1991, Ba lan năm 1992. Ở Việt Nam thuế TNCN chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009.
Thời gian đầu khi mới ban hành Luật thuế TNCN, các Chính phủ ở một số nước áp dụng luật thuế TNCN thường chọn đánh thuế vào những đối tượng dễ đo lường được như đất đai, tài sản, hàng hoá hữu hình… Tuy nhiên cho Luan van 9 đến nay sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung, thay thế những chế định quan trọng trong Luật thuế TNCN đã có nhiều biến đổi. Có thể nói khác với các loại thuế khác, thuế TNCN có diện điều chỉnh rộng với tất cả các cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công; thu nhập từ kinh doanh; từ đầu tư gián tiếp như mua, bán cổ phần, trái phiếu, cổ phiếu… Thuế TNCN điều chỉnh không chỉ cá nhân trong nước mà cả cá nhân nước ngoài nếu làm việc có thu nhập tại nước sở tại. Các khoản thu nhập chịu thuế cũng có diện rộng bao gồm tất cả các khoản thu nhập của cá nhân. Tuy nhiên, thực hiện chính sách xã hội và mục tiêu công bằng của thuế TNCN, luật thuế cũng qui định cụ thể một số khoản thu nhập không chịu thuế, miễn thuế, giảm thuế.
[31] Ở Việt Nam, cùng với quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện nền kinh tế mở, sản xuất kinh doanh trong nước và đầu tư nước ngoài đều tăng mạnh, đời sống kinh tế xã hội có những bước chuyển biến đáng kể. Tuy nhiên, kèm theo đó là sự phát sinh chênh lệch về mức sống ngày càng rõ rệt, tiền lương, tiền công của người lao động giữa các đơn vị, nhất là khu vực kinh tế quốc doanh và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có sự khác biệt ngày càng lớn. Trong bối cảnh đó, hệ thống chính sách thuế được cải cách bước 1 (năm 1990), bên cạnh Luật Thuế lợi tức áp dụng đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, Quốc hội uỷ quyền cho Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao ngày 27/12/1990 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/04/1991, nhằm động viên sự đóng góp của những cá nhân có thu nhập cao. Trong quá trình thực hiện đến nay Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đã có năm lần sửa đổi, bổ sung vào tháng 6/1994, tháng 2/1997, tháng 7/1999, tháng 5/2001 và tháng 3/2004.
Các lần sửa đổi Pháp lệnh thuế TNCN nêu trên đã mở rộng phạm vi thu Thuế TNCN sang các khu vực hưởng lương khác tại các doanh nghiệp trong nước và một số cơ quan của nhà nước, cá Luan van 10 nhân có thu nhập cao, tăng cường công tác quản lý thu nộp thuế, nhưng chủ yếu các lần sửa đổi vẫn là sửa mức khởi điểm tính thuế, thuế suất, giãn cách thu nhập chịu thuế giữa các bậc thuế của biểu thuế. Thuế TNCN nước ta có đóng góp ngày càng tăng vào tổng số thu từ thuế cho NSNN. Ngày 21/11/2007, Quốc hội ban hành Luật Thuế TNCN và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009, thay thế cho Thuế thu nhập với người có thu nhập cao trước đây. Luật thuế TNCN mới quy định NNT là cá nhân người Việt Nam, người nước ngoài có thu nhập chịu thuế bao gồm cả cá nhân tự kinh doanh và chủ hộ gia đình hoặc người đại diện hộ gia đình.
Việc chuyển cá nhân, hộ kinh doanh hiện đang nộp thuế thu nhập doanh nghiệp và mở rộng thêm các đối tượng có thu nhập từ đầu tư vốn và tài sản vào nộp Thuế TNCN sẽ đảm bảo công bằng trong điều tiết thu nhập của cá nhân và phù hợp với thông lệ quốc tế. Thuế TNCN của Việt Nam dần được hoàn hiện theo thời gian. Từ năm 1991 đến trước năm 2009, để phù hợp hơn với tình thình thực tế, thuế TNCN ở Việt Nam được quy định dưới hình thức Thuế thu nhập với người có thu nhập cao. Từ 01/01/2009, Luật thuế TNCN chính thức có hiệu lực, đánh dấu bước phát triển quan trọng của sắc thuế này và trong 04 năm thực hiện luật thuế TNCN đã được điều chỉnh sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2013.
Theo đó, khái niệm thuế TNCN ở Việt Nam cũng dần được bổ sung đầy đủ hơn: Thuế TNCN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận được của các cá nhân trong một kỳ tính thuế nhất định thường một năm, từng tháng hoặc từng lần, không phân biệt nguồn gốc phát sinh thu nhập. Thuế TNCN là một loại thuế trực thu vì nó đánh trực tiếp vào thu nhập của cá nhân, cá nhân khó có thể chuyển gánh nặng thuế được sang cho chủ thể khác. Luan van 11 Thu nhập cá nhân là tổng số tiền, hàng hoá, dịch vụ mà một cá nhân nhận được trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm). Thu nhập chịu thuế của cá nhân trong kỳ tính thuế là thu nhập sau khi đã giảm trừ các khoản chi phí liên quan để tạo ra thu nhập, các khoản giảm trừ mang tính chất xã hội và các khoản giảm trừ khác.
(tr 142, [24]) Nguyên nhân ra đời và tồn tại của Thuế TNCN Thứ nhất, Thuế TNCN ra đời xuất phát từ yêu cầu đảm bảo sự công bằng trong tiêu dùng hàng hoá công cộng và phân phối thu nhập. Điều này đặc biệt cần thiết trong điều kiện kinh tế thị trường vì sự phân hoá giàu nghèo là điều khó tránh khỏi. Trong hoàn cảnh đó, thuế thu nhập cá nhân sẽ là một biện pháp tốt để rút ngắn khoảng cách giàu nghèo trong xã hội mà vẫn đảm bảo tính công bằng trong đóng góp của các cá nhân cho xã hội. Thuế TNCN đánh vào thu nhập của cá nhân dựa trên nguyên tắc “lợi ích”, “công bằng” và “khả năng nộp thuế”.
Theo nguyên tắc “lợi ích” của kinh tế học công cộng, công dân phải có nghĩa vụ nộp thuế để được hưởng những lợi ích do Nhà nước mang lại, chẳng hạn như hệ thống luật pháp, quốc phòng, an ninh, trật tự, dịch vụ, hàng hoá công. Thuế TNCN đảm bảo nguyên tắc “công bằng”. Trong đó, những người có thu nhập như nhau phải nộp thuế như nhau (công bằng theo chiều ngang), những người có thu nhập cao phải nộp thuế nhiều hơn người có thu nhập thấp (công bằng theo chiều dọc). Bên cạnh đó, cần phải xem xét “khả năng nộp thuế” của đối tượng nộp để đảm bảo tính khả thi của chính sách thuế vì người dân không thể nộp thuế khi không đảm bảo thu nhập để duy trì cuộc sống tối thiểu.
Trên ý nghĩa đó, thuế TNCN là sắc thuế đảm bảo tính công bằng, hợp lý và hiệu quả trong phân phối thu nhập quốc dân. Thứ hai, do nhu cầu chi tiêu của nhà nước ngày càng tăng trong điều kiện chức năng của nhà nước ngày càng mở rộng. Hơn nữa, tiến trình tự do Luan van 12 hoá thương mại khu vực và thế giới trong những thập kỷ gần đây đã làm cho nguồn thu từ thuế xuất nhập khẩu bị sụt giảm đáng kể. Điều đó đặt ra nhu cầu tăng cường các nguồn thu nội địa để bù đắp thiếu hụt ngân sách.
Thuế TNCN được coi là nguồn thu quan trọng trong tổng thu ngân sách nhà nước. Thứ ba, thuế thu nhập được sử dụng như một công cụ điều tiết vĩ mô, kích thích tiết kiệm và đầu tư theo hướng nâng cao năng lực hiệu quả xã hội. Một trong những lý thuyết căn bản của Kenyes là Lý thuyết về tính hữu dụng giảm dần của thu nhập (mức thu nhập càng cao thì tính hữu dụng của nó càng thấp). Do vậy, để tăng phúc lợi xã hội cần thiết phải điều tiết bớt thu nhập của những đối tượng có thu nhập cao và phân phối lại cho những đối tượng có thu nhập thấp hơn.
Bên cạnh đó, thông qua chính sách miễn giảm, hỗ trợ, ưu đãi. thuế thu nhập có thể có tác động trực tiếp đến định hướng tiêu dùng và đầu tư theo hướng có lợi, thực hiện mục tiêu điều chỉnh kinh tế của nhà nước. Thứ tư, thuế TNCN luỹ tiến còn có tác dụng bù lại sự luỹ thoái của các loại thuế tiêu dùng. Tính chất luỹ thoái của thuế tiêu dùng được thể hiện: người giàu và người nghèo nếu cùng mua một sản phẩm sẽ đều chịu thuế tiêu dùng như nhau.
Vì vậy, thuế TNCN được coi là sắc thuế có vai trò rất lớn trong việc đảm bảo tính công bằng của hệ thống thuế. Đặc điểm của thuế TNCN Thuế TNCN là một hình thức động viên mang tính bắt buộc trên nguyên tắc theo luật định. Phân phối khoản thu nhập qua Thuế TNCN gắn với quyền lực, sức mạnh của Nhà nước. Thuế TNCN là khoản đóng góp không hoàn trả trực tiếp cho người nộp.
Nó vận động một chiều, không phải là khoản thù lao mà NNT phải trả cho Nhà nước do được hưởng các dịch vụ Nhà nước cung cấp. Thuế TNCN luôn gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia như phúc lợi công cộng, chăm sóc sức khỏe…. Luan van 13 Thuế TNCN là thuế trực thu. Do vậy, NNT cũng là người chịu thuế.