CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1. Tổng quan về thuế thu nhập cá nhân 1. Thuế thu nhập cá nhân Thuế TNCN là sắc thuế có lịch sử ra đời từ rất sớm, bắt đầu từ các nước châu Âu vào nửa cuối thế kỷ XVIII và trở nên phổ biến tại các quốc gia phát triển vào nửa cuối thế kỷ XIX, cho đến nay đã được áp dụng tại hầu hết các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới. Thuế TNCN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của cá nhân, vào lượng giá trị thu được (dưới cả hình thái tiền tệ và hiện vật) trong một khoảng thời gian nhất định, thường được tính theo năm.
Về mặt lý thuyết, áp dụng thuế TNCN dựa trên thu nhập toàn diện được xem là phương pháp tối ưu, phù hợp với nguyên tắc đánh thuế theo khả năng nộp thuế của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, trên thực tế, việc xác định thu nhập toàn diện gặp nhiều khó khăn, thách thức. Vì vậy, để đảm bảo tính khả thi, nhiều quốc gia đã lựa chọn phương thức phân chia các loại hình thu nhập dựa trên nguồn gốc và đặc tính, áp dụng cách thức đánh thuế khác nhau cho từng loại. Chẳng hạn, thu nhập từ tiền lương, tiền công thường bị đánh thuế lũy tiến từng phần, trong khi thu nhập từ đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn thường chịu mức thuế suất thấp hơn nhằm khuyến khích và thúc đẩy đầu tư, kinh doanh.
Cách tiếp cận này vừa đảm bảo tính khả thi trong thực tiễn, vừa phát huy vai trò của thuế TNCN trong việc điều tiết nền kinh tế. Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân - Là thuế trực thu: thuế TNCN là thuế trực thu, người có nghĩa vụ nộp thuế này không thể chuyển các khoản thuế của mình cho người khác. - Thuế TNCN luôn gắn với chính sách xã hội (như phúc lợi công cộng, giáo dục chăm sóc sức khỏe…) của mỗi quốc gia. - Là loại thuế có độ nhạy cảm cao: thuế TNCN liên quan trực tiếp đến lợi ích cụ thể của Người nộp thuế và liên quan đến hầu hết mọi cá nhân trong xã hội.
Thuế TNCN là khoản đóng góp không hoàn trả trực tiếp cho người nộp. Thuế TNCN mang tính chất đơn phương, tức là khoản thu bắt buộc mà người nộp thuế phải nộp cho Nhà nước, không phải là một khoản phí mà người nộp thuế trả để 8 đổi lấy các dịch vụ cụ thể do Nhà nước cung cấp. Nói cách khác, người nộp thuế không "mua" dịch vụ công bằng cách nộp thuế TNCN. Khoản thuế này được sử dụng để chi trả cho các hoạt động chung của Nhà nước, nhằm đảm bảo an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh và các dịch vụ công khác mà không phân biệt đối tượng hưởng thụ.
- Mang tính chất lũy tiến cao: Thuế TNCN được thiết kế dựa trên nguyên tắc khả năng nộp thuế, nghĩa là người có thu nhập càng cao thì sẽ phải nộp thuế với tỷ lệ càng lớn. Để hiện thực hóa nguyên tắc này, thuế suất của thuế TNCN thường được thiết kế theo biểu lũy tiến từng phần, trong đó mức thuế suất tăng dần theo các bậc thu nhập. Bằng cách đánh thuế cao hơn đối với người có thu nhập cao, thuế TNCN góp phần thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, tái phân phối thu nhập, đảm bảo sự côngbằng trong xã hội. - Xét về góc độ kinh tế, thuế TNCN có tính trung lập cao hơn so với các loại thuế khác.
Điều này bởi vì việc tăng hay giảm thuế TNCN ít gây ra những xáo trộn trong cơ cấu kinh tế. Cụ thể, thuế TNCN không được tính vào giá bán (giá thanh toán) hàng hóa, dịch vụ, do đó nó không làm sai lệch giá cả thị trường. Ngược lại, các loại thuế gián thu như thuế giá trị gia tăng GTGT hoặc thuế tiêu thụ đặc biệt được tính trực tiếp vào giá bán của hàng hóa, dịch vụ. Do đó, khi thay đổi thuế suất của các loại thuế này, giá cả sẽ biến động theo, ảnh hưởng đến cung, cầu và gây ra những xáo trộn trong nền kinh tế.
Tính trung lập của thuế TNCN giúp cho Nhà nước có thể sử dụng công cụ này để điều tiết nền kinh tế một cách linh hoạt, hiệu quả mà không gây ra những tác động mạnh đến cơ cấu kinh tế. - Thuế TNCN có diện thu thuế rộng, đối tượng nộp thuế bao gồm tất cả các cá nhân có thu nhập, cả công dân trong nước và người nước ngoài, bất kể họ cư trú thường xuyên hay không thường xuyên tại Việt Nam. Hơn nữa, hầu hết các khoản thu nhập của cá nhân đều phải tính thuế, không phân biệt nguồn thu phát sinh trong nước hay ngoài nước. Chính vì diện thu thuế rộng như vậy, thuế TNCN có khả năng tạo nguồn thu rất lớn cho ngân sách nhà nước.
Đây là một trong những nguồn thu quan trọng, ổn định, góp phần đảm bảo cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Người nộp thuế Theo quy định tại Luật Thuế thu nhập cá nhân, người nộp thuế TNCN là cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế. Trong đó, phạm vi xác định thu nhập chịu thuế đối với cá nhân cư trú được quy định là thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam; đối với cá nhân không cư trú thì là thu nhập phát sinh tại lãnh thổ Việt Nam; cả hai loại thu nhập nêu trên đều không phân biệt nơi trả và nơi nhận thu nhập. Cá nhân được coi là cư trú tại Việt Nam khi đáp ứng một trong các điều kiện sau: (i) Có mặt (sự hiện diện của cá nhân) trên lãnh thổ Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam; (ii) Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo quy định; (iii) Những cá nhân không đáp ứng được một trong các điều kiện trên thuộc nhóm cá nhân không cư trú.
Thu nhập chịu thuế - Luật thuế thu nhập cá nhân ở nước ta quy định thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân bao gồm các loại thu nhập sau: + Thu nhập từ kinh doanh: Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (riêng đối với thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản chỉ áp dụng đối với trường hợp không đủ điều kiện được miễn thuế); thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật. + Thu nhập từ tiền lương, tiền công: là các khoản thu nhập người lao động nhận được từ người sử dụng lao động dưới các hình thức bằng tiền hoặc không bằng tiền: Tiền lương, tiền công, và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công; các khoản phụ cấp, trợ cấp; tiền thù lao dưới các hình thức; tiền nhận được từ tham gia hiệp hội kinh doanh, hội đồng quản trị, ban kiểm soát, hội đồng quản lý và các tổ chức; các khoản lợi ích khác mà đối tượng nộp thuế nhận được bằng tiền hoặc không bằng tiền; tiền thưởng. + Thu nhập từ đầu tư: lãi cổ tức, lãi cho vay, thu nhập từ đầu tư vốn dưới các hình thức khác. + Thu nhập khác: lãi từ chuyển nhượng tài sản (chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản), thu nhập từ trúng thưởng, thu nhập từ bản quyền, thu nhập từ nhượng quyền thương mại, thu nhập từ thừa kế, thu nhập từ quà tặng.
Giảm thuế Để hỗ trợ người nộp thuế gặp khó khăn do những sự cố bất khả kháng, pháp luật quy định chính sách giảm thuế thu nhập cá nhân tương ứng với thiệt hại thực tế. Cụ thể: Điều kiện được giảm thuế: Người nộp thuế chịu ảnh hưởng bởi thiên tai, hoả hoạn, tai nạn, hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, dẫn đến suy giảm khả năng nộp thuế trong năm tính thuế. Xác định số thuế được giảm: Mức độ thiệt hại: Được tính bằng tổng chi phí khắc phục hậu quả, sau khi đã trừ đi các khoản bồi thường (nếu có) từ bảo hiểm hoặc bên gây ra tai nạn. Số thuế làm căn cứ giảm: Là toàn bộ số thuế thu nhập cá nhân người nộp thuế phải nộp trong năm tính thuế xảy ra sự cố.
Áp dụng mức giảm: Nếu mức độ thiệt hại thấp hơn số thuế phải nộp, số thuế được giảm bằng mức độ thiệt hại. Nếu mức độ thiệt hại cao hơn số thuế phải nộp, người nộp thuế sẽ được miễn toàn bộ số thuế phải nộp trong năm đó. Phương pháp tính thuế Hệ thống thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam áp dụng hai phương thức thu chính: khấu trừ tại nguồn và thu trực tiếp. Mỗi phương thức mang những đặc điểm riêng, phù hợp với từng loại hình thu nhập và đối tượng người nộp thuế.
Khấu trừ tại nguồn: Ưu tiên áp dụng cho các nguồn thu có tính chất ổn định, dễ dàng xác định như tiền lương, tiền công, thu nhập từ cho thuê bất động sản. Theo đó, trách nhiệm nộp thuế thuộc về tổ chức hoặc cá nhân chi trả thu nhập. Số thuế thu nhập cá nhân sẽ được khấu trừ trực tiếp trước khi chi trả phần thu nhập còn lại cho người lao động. Cơ chế này, tuy đơn giản và thuận tiện trong quản lý thuế, nhưng có thể chưa phản ánh chính xác nghĩa vụ thuế thực tế của người nộp thuế do chưa xem xét đến các khoản giảm trừ, khấu trừ khác.
Thu trực tiếp: Áp dụng trong trường hợp thu nhập không ổn định, có nhiều nguồn thu nhập khác nhau, hoặc người nộp thuế có các khoản giảm trừ, khấu trừ theo quy định. Người nộp thuế sẽ tự kê khai thu nhập, tính toán số thuế phải nộp và nộp tờ khai cho cơ quan thuế. Phương thức này đòi hỏi người nộp thuế phải chủ động và am hiểu các quy định về thuế, đồng thời, cơ quan thuế cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để đảm bảo tính trung thực của thông tin kê khai. Tổng quan về quản lý thuế thu nhập cá nhân 1.
Khái niệm quản lý thuế thu nhập cá nhân Quản lý thuế, một lĩnh vực trọng yếu trong nền kinh tế thị trường, là quá trình điều tiết các hoạt động thuế quan của Nhà nước, nhằm đảm bảo nguồn thu ngân sách bền vững và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó, quản lý thuế TNCN giữ vai trò then chốt, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và xu hướng giảm thuế xuất nhập khẩu. Thuế TNCN, với đặc thù gắn liền với thu nhập của mỗi cá nhân, đang dần trở thành nguồn thu chủ lực của ngân sách nhà nước.