đặt vấn đề như vậy và trên cơ sở tiếp thu những hạt nhân hợp lý của các định nghĩa về thuế của các nhà kinh tế trong và ngoài nước, chúng tôi nhất trí với định nghĩa về thuế trong giáo trình Thuế của Học viện Tài chính (nhà xuất bản Tài chính năm 2008). Theo đó, thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng. Bản chất của thuế Thuế là một phạm trù kinh tế đồng thời cũng là một phạm trù lịch sử, thuế luôn luôn gắn chặt với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước. Luan van 8 Thuế là một công cụ tài chính của Nhà nước, được sử dụng để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung nhằm sử dụng cho mục đích công cộng.
Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong, vốn có của thuế. Những đặc điểm đó là: Thuế luôn luôn gắn liền với quyền lực Nhà nước. Thuế là nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được qui định trong Hiến Pháp; thuế là một phần thu nhập của các tầng lớp dân cư bắt buộc phải nộp cho Nhà nước; thuế là một hình thức chuyển giao thu nhập không mang tính chất hoàn trả trực tiếp [10]. Bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Nhà nước thu thuế cũng là nhằm tạo ra một nguồn lực tập trung để chi phát triển cơ sở hạ tầng, chi phúc lợi công cộng, chi văn hoá, giáo dục y tế, xã hội, an ninh, quốc phòng… Hiến pháp nước ta năm 1992, Điều 80 đã ghi rõ: “Công dân có nghĩa vụ đóng thuế và lao động công ích theo qui định pháp luật”. Tuy nhiên, Nhà nước cần phải thu đúng thu đủ để đảm bảo chi cho các mục tiêu trên, còn người nộp thuế thường muốn nộp thuế càng ít càng tốt. Do đó khi ý thức tự giác chấp hành pháp luật thuế của người dân chưa cao thì tình trạng trốn thuế, nợ thuế là điều không thể tránh khỏi, dẫn đến công tác thuế luôn gặp những khó khăn nhất định. Chức năng của thuế Chức năng của một sự vật hay đối tượng nào đó là sự thể hiện công dụng vốn có của nó.
Đối với một phạm trù kinh tế, chức năng phản ánh bản chất sự tác động vốn có của nó, là phương thức đặc biệt biểu hiện những thuộc tính vốn có của phạm trù. Cũng như bản chất, chức năng cũng có tính ổn định tương đối của nó trong suốt thời gian tồn tại của sự vật hay đối tượng. Thuế không những là một phạm trù kinh tế mà còn là phạm trù tài chính, nó biểu hiện những thuộc tính vốn có của các quan hệ tài chính. Tuy nhiên, thuế cũng có những đặc trưng, hình thức vận động và các chức năng Luan van 9 riêng của mình bắt nguồn từ tổng thể các mối quan hệ tài chính.
Mặc dù chưa có sự thống nhất trong việc đưa ra số lượng các chức năng của thuế, nhưng thông qua quá trình ra đời, tồn tại và phát triển của thuế, chúng ta thấy thuế luôn thực hiện hai chức năng: chức năng huy động nguồn lực tài chính cho nhà nước và chức năng điều chỉnh (điều tiết). Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường Quản lý Nhà nước đối với kinh tế là một chức năng vốn có của Nhà nước, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường thì nhất thiết vai trò đó càng được coi trọng và phát huy. Với vai trò chủ yếu là tạo ra cơ sở pháp lý cho sự phát triển kinh tế - xã hội, sự can thiệp tích cực của Nhà nước thông qua hệ thống Pháp luật, đặc biệt là pháp luật tài chính, thuế, ngân hàng, trong đó vai trò của thuế trở nên cực kỳ quan trọng. Thuế được coi là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước, có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội.
Thuế điều tiết thu nhập trong xã hội và góp phần đảm bảo công bằng xã hội [10], [7]. * Thuế là khoản thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước Để có một nền tài chính Quốc gia lành mạnh chủ yếu phải dựa vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân. Đặc biệt đối với nước ta hiện nay, các khoản viện trợ giảm xuống nhiều thì thuế phải trở thành nguồn thu chủ yếu của Ngân sách quốc gia, là một bộ phận cơ bản của chính sách tài chính quốc gia. Sau hơn 20 năm đổi mới tình hình kinh tế nước ta có nhiều chuyển biến tích cực.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm sau tăng hơn năm trước, bình quân trong 5 năm 2004-2008 là 7,8%. Lạm phát được kìm hãm và đẩy lùi, thị trường được mở rộng, kim ngạch xuất khẩu tăng, tạo điều kiện cho sản xuất trong nước phát triển. Quan hệ kinh tế đối ngoại từng bước được mở rộng và phát triển hội nhập.Trong bối cảnh đó thu ngân sách hàng năm tăng đều đặn năm sau cao hơn năm trước Luan van 10 đáp ứng được nhu cầu chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, góp phần tích luỹ cho Ngân sách và cả việc chi trả nợ vay. Được như vậy thuế đã góp phần tích cực trong việc tăng thu Ngân sách.
Tỷ lệ động viên GDP vào Ngân sách Nhà nước ngày càng tăng. Trong đó mức động viên thuế và phí chiếm vai trò quan trọng. Ngân sách Nhà nước được thu từ nhiều nguồn khác nhau: Từ thuế, Phí - lệ phí, viện trợ nước ngoài, tín dụng nhưng thuế và phí, đặc biệt là thuế là nguồn thu chủ yếu, là bộ phận cơ bản của nền tài chính quốc gia. ở các nước phát triển, thuế chiếm trên dưới 90% tổng thu ngân sách.
Ở Việt Nam vai trò của thuế trong tổng thu ngân sách chiếm tỷ trọng lớn ngày càng tăng. Trong năm 1990 tỷ trọng thuế và phí trong Tổng thu ngân sách nhà nước (NSNN) là 76,8%, trong những năm gần đây nguồn thu từ thuế thường chiếm trên 90% tổng các khoản thu của NSNN và tỷ lệ điều tiết từ GDP hàng năm khoảng 24-25%. Với cơ cấu nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Hệ thống thuế được áp dụng thống nhất, đồng bộ giữa các thành phần kinh tế đã bao quát toàn bộ mọi hoạt động sản xuất kinh doanh.
Các nguồn thu nhập, mọi tiêu dùng của xã hội thuế đã hoàn thành được nhiệm vụ tập trung tích luỹ ngân sách đảm bảo cho yêu cầu chi của Nhà nước về các mặt: Chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển. * Thuế là công cụ quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế Thuế là một công cụ sắc bén của Nhà nước để quản lý kinh tế - xã hội với chức năng chủ yếu là đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, hướng dẫn tiêu dùng khuyến khích sản xuất phát triển theo định hướng của Nhà nước. Một trong những yêu cầu có tính nguyên tắc là chính sách thuế phải phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế trong từng thời kỳ. Do vậy, bằng các sắc thuế khác nhau áp dụng đối với từng ngành, từng lĩnh vực khác nhau.
Luan van 11 Nhà nước điều chỉnh quy mô đầu tư vào các ngành, các lĩnh vực khác nhau. Thực hiện cân đối hàng - tiền, cân đối cung cầu ở tầm vĩ mô, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý giữa các ngành, các vùng lãnh thổ giữa Trung ương và Địa phương đáp ứng nhu cầu sản xuất tiêu dùng tích luỹ trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Đây là điều kiện quan trọng ổn định để thúc đẩy tốc độ phát triển của nền kinh tế. Thông qua Pháp luật thuế Nhà nước xác định đúng đắn cơ cấu và quan hệ giữa các sắc thuế, quy định chính xác, hợp lý đối tượng nộp thuế, chế độ miễn giảm, phương pháp quản lý thuế để đảm bảo việc thu đúng thu đủ đồng thời khuyến khích, nâng đỡ những hoạt động sản xuất kinh doanh cần thiết cho xã hội, khuyến khích những thành phần kinh tế cần thiết, các danh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
Đồng thời hạn chế, thu hẹp những ngành nghề, những mặt hàng cần thiết phải hạn chế kể từ sản xuất đến tiêu dùng xã hội theo định hướng của chiến lược phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước có lợi cho quốc kế dân sinh. "Khuyến khích các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế cạnh tranh và chống độc quyền không thể áp dụng một cơ chế tài chính đồng nhất cho các doanh nghiệp Nhà nước trong giai đoạn chuyển đổi hiện nay (giữa các doanh nghiệp kinh doanh theo cơ chế thị trường và các doanh nghiệp phục vụ các lợi ích công cộng) để điều tiết kinh tế - xã hội. Mặt khác để chống độc quyền cần thiết phải có Luật về mặt tài chính cần phải sử dụng công cụ thuế". Thuế góp phần khuyến khích việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái đồng thời khuyến khích việc khai thác, sử dụng một cách tiết kiệm có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, vật tư trong nước.
Bằng các quy định phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế, Thuế không những khuyến khích được hoạt động xuất khẩu hàng hoá nội địa, Luan van 12 từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển đồng thời thuế đã tạo điều kiện tốt cho quan hệ hợp tác quốc tế trong khu vực và quốc tế. Mở rộng, phát triển đầu tư hợp tác quốc tế thông qua chính sách khuyến khích đầu tư và xuất nhập khẩu [12]. * Thuế góp phần bảo đảm bình đẳng giữa các đối tượng nộp thuế và góp phần thực hiện công bằng xã hội Hệ thống chính sách thuế được áp dụng thống nhất đối với mọi thành phần kinh tế, mọi ngành nghề và các tầng lớp dân cư. Các đối tượng nộp thuế bình đẳng về quyền và nghĩa vụ đối với việc nộp thuế, không một ai có những đặc quyền đặc lợi riêng.
Chính sách thuế không phân biệt, ưu tiên hay hạn chế giữa các thành phần kinh tế. Mọi tổ chức, cá nhân đều phải chịu sự điều chỉnh giống nhau của Pháp luật thuế [13]. Thực hiện chức năng phân phối lại thu nhập quốc dân bằng các sắc thuế và các mức thuế suất khác nhau đối với từng lĩnh vực, từng mức thu nhập Nhà nước thực hiện việc điều tiết thu nhập giữa các thành phần kinh tế và các cá nhân trong xã hội. Bằng cách đó, Nhà nước thu hẹp, rút ngắn khoảng cách chênh lệch quá mức về thu nhập giữa các bộ phận trong xã hội.