Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI CÁ NHÂN KINH DOANH 1. Những vấn đề chung về cá nhân kinh doanh 1. Khái niệm và đặc điểm về cá nhân kinh doanh Hiện nay, pháp luật chưa có định nghĩa cụ thể nào về cá nhân kinh doanh. Tuy nhiên thông qua các văn bản phát luật về thuế ta có thể hiểu các khái niệm cơ bản về cá nhân kinh doanh như sau: Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15 tháng 6 năm 2015 hướng dẫn thực hiện thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân cư trú có hoạt động kinh doanh;… thì “người nộp thuế là cá nhân cư trú bao gồm cá nhân, nhóm cá nhân và hộ gia đình có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc tất cả các lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật (gọi là cá nhân kinh doanh)”.
[1,2] Theo Quyết định số 2371/QĐ-TCT ngày 18 tháng 12 năm 2015 về việc ban hành quy trình quản lý thuế đối với cá nhân kinh doanh thì “Cá nhân kinh doanh là cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc tất cả các lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật”.[19] Trước đây, các quyết định về việc ban hành quy trình quản lý thuế đối với cá nhân kinh doanh thì “cá nhân kinh doanh” được gọi là “hộ kinh doanh”. Điều 66 Nghị định 78/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 9 năm 2015 về thủ tục đăng ký doanh nghiệp quy định như sau: “Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh”[3]. Với nguyên nhân trên nên ta có thể hiểu rằng cá nhân kinh doanh cũng có các đặc điểm như hộ kinh doanh được pháp luật quy định đó là: 6 - Do một cá nhân là công dân Việt Nam, hoặc nhóm cá nhân, hộ gia đình làm chủ. + Đối với trường hợp do một cá nhân làm chủ, cá nhân có toàn quyền quyết định về mọi hoạt động kinh doanh của mình.
+ Đối với trường hợp do nhóm cá nhân hoặc hộ gia đình làm chủ, mọi hoạt động kinh doanh của hộ do các thành viên trong nhóm hoặc trong hộ quyết định. Nhóm người hoặc hộ gia đình cử một người đủ điều kiện là đại diện cho nhóm hoặc cho hộ để tham gia giao dịch với bên ngoài - Hộ kinh doanh không phải là doanh nghiệp: cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình nhân danh mình tham gia vào các hoạt động kinh doanh. Mặc dù là chủ thể kinh doanh nhưng cá nhân kinh doanh không có tư cách pháp nhân, không có con dấu riêng và chịu trách nhiệm đến cùng về mọi khoản nợ phát sinh từ hoạt động kinh doanh của mình (trách nhiệm vô hạn). - Ngành nghề kinh doanh: Hộ kinh doanh được quyền kinh doanh ngành, nghề kinh doanh có điều kiện kể từ khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật và phải bảo đảm đáp ứng các điều kiện đó trong suốt quá trình hoạt động.
Việc quản lý nhà nước đối với ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và kiểm tra việc chấp hành điều kiện kinh hộ doanh của kinh doanh thuộc thẩm quyền của cơ quan chuyên ngành theo quy định của pháp luật chuyên ngành. Vai trò của cá nhân kinh doanh Hiện nay ở nước ta, với nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mọi thành phần kinh tế đều được Đảng và Nhà nước khuyến khích phát triển. Trong đó, thành phần kinh tế cá thể có vị trí và vai trò quan trọng trong nhiều ngành nghề, phần lớn thành phần kinh tế này hoạt động dưới hình thức cá nhân kinh doanh. Trong những năm qua, hoạt động sản xuất, kinh doanh của cá nhân kinh doanh tại Việt Nam có rất nhiều thuận lợi từ thủ tục thành lập đơn vị kinh doanh đến cải cách quản lý thuế đối tượng này đã tạo điều kiện cho cá nhân kinh doanh phát triển mạnh mẽ.
Sự phát triển của hình thức cá nhân kinh doanh góp phần quan trọng vào việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Bằng việc sử dụng số lượng lớn lao động từ các hộ gia đình ở các địa phương tham gia, hoạt động sản xuất, kinh 7 doanh ở nhiều lĩnh vực ngành nghề tạo ra các chủng loại sản phẩm hàng hóa dịch vụ đa dạng, phong phú, các cá nhân kinh doanh không những giải quyết việc làm, tăng thu nhập. mà còn là mạng lưới rộng lớn, phát triển về những vùng xa, vùng khó khăn mà các lĩnh vực kinh doanh khác không đáp ứng được. Đây là kênh phân phối và lưu thông hàng hóa quan trọng, giúp cân đối thương mại và phát triển kinh tế địa phương.
Với ý nghĩa đó, cá nhân kinh doanh góp phần đóng vai trò làm vệ tinh cho các doanh nghiệp của nền kinh tế trong quá trình phân phối, luân chuyển hàng hóa, dịch vụ, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lao động giải quyết việc làm cho một bộ phận lớn dân cư, có tính linh hoạt trong hoạt động và sức sống mạnh mẽ. Ngày nay, hình thức cá nhân kinh doanh đang hoạt động theo cơ chế thị trường có sự tự do cạnh tranh trong sản xuất, kinh doanh hàng hoá. Với quy mô nhỏ, bộ máy quản lý gọn nhẹ, năng động, cá nhân kinh doanh có thể dễ dàng đáp ứng được những thay đổi của nhu cầu thị trường. Là động lực khai thác các tiềm năng, tận dụng các nguồn lực vốn, lao động, tài nguyên làm tăng sản phẩm cho xã hội.
Là đối tác cạnh tranh của kinh tế quốc doanh trong quá trình cùng vận động và phát triển. Như vậy, cá nhân kinh doanh đã góp phần đáp ứng đầy đủ nhu cầu ngày càng cao của thị trường tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất, kinh doanh hàng hoá phát triển cao hơn, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Thêm vào đó lại được Đảng và Nhà nước có các chủ trương, chính sách khuyến khích tạo điều kiện cho cá nhân kinh doanh phát triển đã góp phần tạo được nhiều việc làm cho người lao động, góp phần ổn định an ninh trật tự xã hội, nâng cao trình độ dân trí, sức khoẻ và đời sống của người dân. Thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng văn minh”.
Từ sự phân tích trên ta thấy hình thức cá nhân kinh doanh là thành phần kinh tế không thể thiếu được trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá xây dựng đất nước. Cá nhân kinh doanh phát triển góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong cả nước nói chung, kinh tế từng địa phương nói riêng và cũng từ đó tăng mọi nguồn thu cho ngân sách địa phương cũng như ngân sách nhà nước. Những vấn đề chung về quản lý thuế đối với cá nhân kinh doanh 1. Tổng quan về quản lý thuế 1.
Khái niệm về thuế Thuế ra đời - phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của Nhà nước. Thuế là một đòi hỏi khách quan đối với sự tồn tại và phát triển của Nhà nước. Để bảo đảm duy trì sự tồn tại của Nhà nước và thực hiện các chức năng của mình, nhất thiết Nhà nước phải có nguồn tài chính nhất định. Có thể nói thuế là hình thức động viên cổ xưa nhất của tài chính Nhà nước.
Ở nước ta, đến nay vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về thuế. Theo từ điển Tiếng Việt: “Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp v. buộc phải nộp cho Nhà nước theo mức qui định” hay ta có thể hiểu: “ Thuế là khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật qui định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng.” [10,5] Như vậy, một định nghĩa hoàn chỉnh về thuế cần hàm chứa các nội dung sau: Thứ nhất, làm rõ nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi quan hệ tiền tệ giữa Nhà nước với đối tượng nộp thuế. Điều đó có nghĩa Nhà nước dùng quyền lực của mình để đặt ra các loại thuế và sử dụng thuế là công cụ chủ yếu để tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và do cơ quan lập pháp qui định Thứ hai, mối quan hệ trên nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt.
Việc chuyển giao thu nhập có tính bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước và phải được qui định bằng pháp luật, không có sự bồi hoàn trực tiếp. Thứ ba, thuế là hình thức phân phối lại một phần của cải xã hội. Từ các yếu tố trên đây, có thể hiểu thuế là một hình thức đóng góp cho Nhà nước theo nghĩa vụ do luật định đối với các thể nhân và pháp nhân nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước; là hình thức phân phối lại một phần của cải xã hội. Nó không mang tính chất hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế; được Nhà nước sử dụng như một công cụ kinh tế quan trọng nhằm huy động nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, điều chỉnh kinh tế và điều hòa thu nhập.
Quản lý thuế Theo nghĩa hẹp, quản lý thuế là một lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước. Quản lý thuế là khâu tổ chức, phân công trách nhiệm cho các bộ phận trong cơ quan thuế; xác lập mối quan hệ phối hợp giữa các bộ phận một cách hữu hiệu trong việc thực thi các chính sách thuế. Theo nghĩa rộng, quản lý thuế là hoạt động mang tính lập pháp về thuế gồm các hoạt động về xây dựng chính sách thuế, ban hành văn bản quy phạm về pháp luật thuế, hoạt động tổ chức hành thu, xử lý vi phạm về thuế. Công tác quản lý thuế là quá trình nâng cao chất lượng hệ thống thuế thông qua đổi mới hệ thống thuế theo hướng tạo hành lang pháp luật cho chính sách thuế; quản lý thuế nâng cao trách nhiệm các tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, đồng thời từng bước điều chỉnh các sắc thuế phù hợp với lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế.