Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về thuế và thuế thu nhập cá nhân 1. Các công trình nghiên cứu về thuế thu nhập cá nhân ở nước ngoài Trong các nghiên cứu cổ điển sớm nhất về thuế, có thể kể đến học thuyết không tưởng và học thuyết bài thuế. Học thuyết không tưởng cho rằng cần hướng tới xây dựng một loại thuế đơn nhất hay duy nhất, vừa đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, vừa tránh được sự phức tạp hoá chính sách thuế với nhiều loại thuế khác nhau, làm giảm gánh nặng thuế khoá cho dân chúng.
Các học giả theo trường phái bài thuế lại cố gắng xây dựng hình ảnh về một xã hội không có thuế. Kế thừa tinh hoa cổ điển, các học thuyết thuế hiện đại không phê phán mà tìm cách khẳng định vai trò của thuế, điển hình là học thuyết thuếetrao đổi, học thuyết thuếe đoàn kết và học thuyết thuếebù đắp. Học thuyết thuếetrao đổi bắt đầu xuất hiện vào cuối thế kỉ XVII. Tư tưởng cốt lõi của học thuyết này coi thuế là cái giá người nộp thuế phải trả để đổi lấy các dịch vụ và hàng hoá công cộng do nhà nước cung ứng.
Các đại biểu là John Locke, Jean e Jacques Rousseau, Adam Smith và Montesquieu. Học thuyết thuế e đoàn kết, dựa trên tư tưởng về chủ nghĩa đoàn kết cộng đồng. Học thuyết này phát triển rất mạnh vào cuối thế kỉ XIX, tuyên truyền cho tư tưởng tương trợ lẫn nhau và đoàn kết cộng đồng, với tư tưởng đòi hỏi người nộp thuế chấp nhận hi sinh lợi ích của mình cho nhà nước, nộp thuế theo sự ấn định thuế. Tư tưởng chủ đạo của học thuyết thuếebù đắp là cần thiết phải có sự hi sinh, tương trợ của những người có khả năng đóng thuế đối với nhóm người không có khả năng đóng thuế, dựa trên tinh thần đoàn kết và tương trợ cộng đồng.
Học thuyết về thuếebù đắp ngày càng được ủng hộ và giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự hoàn thiện của hệ thống thuế quốc gia. Trong công trình nghiên cứu “Bản chất của thuế I sự tiếp cận từ các học thuyết thuế cổ điển và hiện đại”, in tại Tạp chí Luật học tháng 4, 2009, TS. Nguyễn Văn Tuyến, Đại học Luật Việt Nam đã nêu bật những ảnh hưởng của các học thuyết thuế cổ điển và hiện đại đối với quá trình phát triển hệ thống thuế ở Việt Nam. Những đổi mới đã làm cho chính sách thuế ở Việt Nam tiến bộ và phù hợp với xu hướng phát triển chung.
Việc ban hành Luật quản lý thuế năm 2006 đã giảm dần tính mệnh lệnh hành chính trong quan hệ thuế, trao quyền chủ động nhiều hơn cho người nộp thuế. Quyền đối kháng của người nộp thuế được ghi nhận với quyền khiếu nại và khởi kiện về thuế đối với cơ quan thuế. Nghĩa vụ bồi thường của Nhà nước cho người nộp thuế khi họ bị thiệt hại do hành vi thu thuế không đúng luật của cơ quan thuế thể hiện sự ảnh hưởng của học thuyết thuếe trao đổi đối với tiến trình cải cách hành chính thuế ở Việt Nam. Với biểu thuế lũy tiến của chính sách thuế hiện hành ở Việt Nam, người có khả năng tài chính tốt hơn sẽ phải đóng thuế nhiều hơn, phản ánh quan điểm chủ đạo của học thuyết thuếebù đắp, kêu gọi sự sẻ chia của những người có khả năng đóng thuế cho những người không có khả năng đóng thuế trên tinh thần đoàn kết xã hội và tương trợ cộng đồng.
Với cuốn Nhập môn luật thuế đại cương và học thuyết thuế, Trung tâm nghiên cứu Việt Nam phiên dịch và xuất bản năm 1963, Giáo sư Michel Bouvier nhấn mạnh sự cân bằng lợi ích giữa nhà nước với công dân trong quan hệ nộp thuế của học thuyết về thuếetrao đổi, dựa trên nguyên tắc trao đổi công bằng giữa hai bên và điều ngược lại ở học thuyết về thuếeđoàn kết: coi trọng “sự hi sinh” từ phía người nộp thuế đối với cộng đồng, dựa trên ý thức tương trợ lẫn nhau và đoàn kết cộng đồng. Cuốn “Tìm hiểu về bản chất và nguồn gốc của cải của các quốc gia” (An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations) được Adam Smith viết và xuất bản lần đầu năm 1776. Ngoài nội dung xem xét nguồn gốc và công dụng của tiền tệ, giá cả của các loại hàng hóa, tiền công của lao động,… tác phẩm đã đề cập đến các nguyên tắc thuế vụ và hệ thống thu ngân sách, với bốn nguyên tắc cơ bản xây dựng hệ thống thuế hợp lý: thuế phải huy động phù hợp với khả năng và sức lực của dân cư; mức thuế và thời hạn thanh toán phải được xác định chính xác; thời gian thu thuế cần được quy định thuận lợi đối với người nộp thuế; các chi phí để tổ chức thu nộp thuế cần phải thấp nhất. Trong cuốn “Kinh tế học” (Economics) của Paul A.
Samuelson và William D.630], ở chương 17, “Thuế và chi tiêu của chính phủ”, các tác giả đã chỉ ra “các nguyên tắc đánh thuế”, với các nguyên tắc được xem xét dưới nhiều góc độ là ”lợi ích”, “khả năng thanh toán”, “công bằng ngang và công bằng dọc”. Tác giả đặc biệt nhấn mạnh về “thuế và tính hiệu quả”. Xét đến hiệu quả, thuế suất sẽ ảnh hưởng đến tiết kiệm và đầu tư “ảnh hưởng đến số giờ làm việc, chuyển hướng luồng đầu tư và tiết kiệm, thay đổi thời điểm luồng thu nhập”. Vấn đề về thuế thu nhập cá nhân cũng đã thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà khoa học quốc tế hiện đại.
“Tax Administration in Developing Countries:an Economic Perspective” (Quản lý thuế ở các nước đang phát triển: Một triển vọng kinh tế), năm 1987 của tác giả Charles Y. Mansfield thuộc Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) khảo sát nghiên cứu về hành chính thuế ở các nước đang phát triển, xem xét sự tác động của chính sách thuế, phương thức áp dụng những công cụ đòn bẩy thúc đẩy nền kinh tế, vai trò của quản lý thuế. Hành chính thuế được xem như vấn đề vận dụng pháp luật vào đời sống kinh tế tài chính, có những bổ trợ cho chính sách phát triển quốc gia. Tài liệu cung cấp các hướng dẫn về phương thức quản trị thuế để có thể giúp thực hiện các hệ thống thuế hiệu quả và công bằng hơn.
“Presumptive Income TaxationIAdministrative, Efficiency and Equity Aspects” (Thuế thu nhập cơ sở, quản lý, hiệu quả và khía cạnh công bằng) năm 1987 của hai tác giả Vito Tanzi and Milka Casanegra de Jantscher thuộc IMF. Nghiên cứu này thảo luận về đánh giá đối với thu nhập trên cơ sở các chỉ số hiệu quả. Phương pháp thuế thu nhập khoán được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước, tuy nhiên, nó không được chú trọng trong lý thuyết tài chính công. Nghiên cứu lập luận rằng cần sự chú ý nhiều hơn tới các tác động hiệu quả của phương pháp thuế khoán.
“Tax in Developing Countries” (Thuế ở các nước đang phát triển), Baltimore, Nxb Johns Hopkins phát hành năm 1990, hai tác giả Richard M. Bird và Oliver Oldman đã nêu vấn đề trốn thuế không chỉ là vấn nạn của riêng các quốc gia kém phát triển. Tại một số nước đang phát triển, tình trạng chỉ thu được một nửa hay ít hơn số thuế thu nhập tiềm năng không phải là tình trạng cá biệt. Có vô số những người giàu có lại hoàn toàn nằm ngoài phạm vi quản lý hoặc những người nằm trong hệ thống thuế nhưng lại kê khai thu nhập thấp đến mức vô lý.
Giải quyết những vấn đề này, các tác giả khẳng định, trước hết, những người đóng thuế phải được xác định, hay đăng ký, đồng thời, cải thiện sự tuân thủ thuế của những người nộp thuế. “Improving Tax Administration in Developing Countries” (Cải thiện quản lý thuế ở các nước đang phát triển) năm 1992 của hai tác giả Richard M.Bird và Milka Casanegra de Jantscher thuộc IMF. Nghiên cứu về xu hướng phát triển cải cách chính sách thuế, chú trọng tới các quy định hành chính thuế, kết quả cải cách thuế ở một số nước (Bolivia, Uruguay, Colombia, Trinidat…), đề xuất giải pháp phù hợp người nộp thuế, đưa ra các khuyến nghị nhằm cải thiện sự tuân thủ của người nộp thuế. “Fundamental reform of personal income tax in OECD countries: trends and recent experiences” (Cải cách cơ bản thuế thu nhập cá nhân ở các nước OECD: những xu hướng và kinh nghiệm mới nhất) năm 2006 của tác giả Bert Brys and Christopher Heady thuộc Trung tâm nghiên cứu chính sách và quản lý thuế OECD.
Nghiên cứu xem xét các xu thế hiện nay trong hệ thống thuế thu nhập cá nhân của các nước thành viên tổ chức OECD. Hơn thế nữa, nghiên cứu đã trình bày các kinh nghiệm về thuế cân bằng và hệ thống thuế thu nhập cá nhân; đồng thời cung cấp các hiểu biết sâu sắc đối với quá trình cải cách các hệ thống thuế thu nhập cá nhân. Các nhà nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (WB), Tập đoàn tài chính quốc tế (IFC) và Price Waterhouse and Cooper PWC cùng tham gia xuất bản những ấn phẩm đánh giá hệ thống thuế toàn thế giới: “Full Paying taxes 2011, 2012”, (Nộp thuê 2011, 2012: Bức tranh toàn cảnh). Báo cáo thực hiện nghiên cứu tại 183 quốc gia nhằm đánh giá các hệ thống thuế trên toàn thế giới từ quan điểm của doanh nghiệp trong giai đoạn 6 năm.
Nghiên cứu này xem xét tác động của thuế tới doanh nghiệp trên cả khía cạnh số thuế phải nộp và gánh nặng tuân thủ. Các chính phủ bày tỏ sự quan tâm đặc biệt đến kết quả của nghiên cứu vì nó cung cấp các thông tin cần thiết để họ thực hiện so sánh với các nước láng giềng theo khu vực địa lý và trong nhóm các nước có điều kiện kinh tế tương đồng. Nghiên cứu này đề cập đến cách thức chính phủ đang phấn đấu để cải thiện hệ thống thuế nước mình như thế nào và nhấn mạnh đến các thông lệ quốc tế tốt nhất và một số cách thức để đạt được kết quả đó với xu hướng tập trung vào việc cải thiện công tác hành chính của hệ thống thuế, bao gồm: ứng dụng hệ thống kê khai, nộp thuế điện tử, giảm số lượng các sắc thuế đánh trên một cơ sở tính thuế và sử dụng quy trình tự kê khai tự nộp thuế. Các công trình nghiên cứu về thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam 1.
Giáo trình thuế và các công trình nghiên cứu về chính sách hoặc cơ chế quản lý thuế thu nhập cá nhân Đặt nền móng cho những lý thuyết về kinh tế nói chung và thuế nói riêng được thể hiện trong “Giáo trình thuế”, Tổng cục Thuế, 1991, “Giáo trình thuế và hệ thống thuế ở Việt Nam”, GS.