CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ KHAI THÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 1. Cơ sở lý luận về quản lý khai thác công trình thủy lợi 1. Một số khái niệm 1. Thủy lợi “Thủy lợi là tổng hợp các giải pháp nhằm tích trữ, điều hòa, chuyển, phân phối, cấp, tưới, tiêu và thoát nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, sản xuất muối; kết hợp cấp, tiêu, thoát nước cho sinh hoạt và các ngành kinh tế khác; góp phần phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo đảm an ninh nguồn nước (Quốc hội, 2017)”.
Công trình thủy lợi “Công trình thủy lợi là công trình hạ tầng kỹ thuật thủy lợi bao gồm đập, hồ chứa nước, cống, trạm bơm, hệ thống dẫn, chuyển nước, kè, bờ bao thủy lợi và công trình khác phục vụ quản lý, khai thác thủy lợi (Quốc hội, 2017)”. "Công trình thủy lợi" là sản phẩm được tạo thành bởi trí tuệ và sức lao động của con người cùng vật liệu xây dựng và thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với nền công trình nhằm mục đích ngăn ngừa hoặc hạn chế những mặt tác hại, khai thác sử dụng và phát huy những mặt có lợi của nguồn nước để phát triển kinh tế - xã hội”.(Nguồn quy chuẩn Việt Nam 04- 05:2012/BNN-PTNT, mục 2. “Công trình thủy lợi đầu mối là công trình thủy lợi ở vị trí khởi đầu của hệ thống tích trữ, điều hòa, chuyển, phân phối, cấp, điều tiết nước hoặc công trình ở vị trí cuối của hệ thống tiêu, thoát nước (Quốc hội, 2017)”. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 7 “Thủy lợi nội đồng là công trình kênh, mương, rạch, đường ống dẫn nước tưới, tiêu nước trong phạm vi từ điểm giao nhận sản phẩm, dịch vụ thủy lợi đến khu đất canh tác (Quốc hội, 2017)”.
“Khai thác công trình thủy lợi là việc khai thác, sử dụng tiềm năng và lợi thế của công trình thủy lợi để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường (Quốc hội, 2017)”. Quản lý công trình thủy lợi “Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý (hay đối tượng quản lý), bằng một hệ thống các phương pháp, nhằm thay đổi trạng thái của đối tượng quản lý, tiếp tục đến mục tiêu cuối cùng phục vụ lợi ích của con người”. Quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường. Quản lý là một phạm trù với tính chất là một loại lao động xã hội hay lao động chung được thực hiện ở quy mô lớn.
Quản lý được phát sinh từ lao động, không tách rời với lao động và bản thân quản lý cũng là một loại hoạt động lao động. Bất kỳ một hoạt động nào mà do một tổ chức thực hiện đều cần có sự quản lý dù ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân thực hiện những chức năng chung. Quản lý có thể được hiểu là các hoạt động nhằm bảo đảm hoàn thành công việc qua nỗ lực của người khác. Công tác quản lý là những quy định quản lý các bộ phận quản lý và các mối quan hệ về nhiệm vụ, quyền hạn của từng người từng bộ phận nhằm hoàn thành mục tiêu chung của tổ chức.
Tuy có nhiều cách hiểu khác nhau, nhưng đã nói đến Công tác quản lý là hàm ý nói đến hệ thống tổ chức được sắp xếp theo thứ bậc, thành từng nhóm, từng bộ phận và ứng với vai trò, nhiệm vụ, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 8 quyền hạn cụ thể để cùng thực hiện mục tiêu chung của tổ chức; nói đến quản lý là nói đến các hoạt động, tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu. Tổ chức và quản lý có mối liên hệ mật thiết, khăng khít lẫn nhau, phụ thuộc vào nhau. Quản lý là tổng hợp các hoạt động nhằm duy trì và hoàn thiện hệ thống tổ chức, thúc đẩy hoạt động của tổ chức bảo đảm sự tồn tại và vận hành của tổ chức, có tổ chức mà không có Công tác quản lý sẽ trở thành một tập hợp hỗn loạn. Giải quyết vấn đề tổ chức phải dựa trên khả năng quản lý, hệ thống quản lý phải xuất phát từ hình thức và phương pháp tổ chức.
Công tác quản lý với 2 nội dung cơ bản là tổ chức và quản lý không tách rời nhau, chúng gắn chặt với nhau, chi phối lẫn nhau. Để thực hiện tốt chức năng quản lý phải xây dựng khung thể chế để mọi cá nhân “Chủ quản lý công trình thủy lợi là cơ quan chuyên môn thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thủy lợi thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân các cấp hoặc tổ chức được Nhà nước giao quyền, trách nhiệm đại diện chủ sở hữu; tổ chức thủy lợi cơ sở; tổ chức, cá nhân tự đầu tư xây dựng công trình thủy lợi (Quốc hội, 2017)”. “Chủ sở hữu công trình thủy lợi là cơ quan, tổ chức được Nhà nước giao quyền, trách nhiệm đại diện chủ sở hữu đối với công trình thủy lợi sử dụng vốn nhà nước; tổ chức, cá nhân tự đầu tư xây dựng công trình thủy lợi (Quốc hội, 2017)”. “Tổ chức thủy lợi cơ sở là tổ chức của những người sử dụng sản phẩm, dịch vụ thủy lợi cùng hợp tác đầu tư xây dựng hoặc quản lý, khai thác công trình thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồng (Quốc hội, 2017)”.
“Sản phẩm, dịch vụ thủy lợi là sản phẩm, dịch vụ được tạo ra do khai thác công trình thủy lợi (Quốc hội, 2017)”. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 9 Giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi là khoản tiền phải trả cho một đơn vị sản phẩm, dịch vụ thủy lợi (Quốc hội, 2017). Phân loại và nguyên tắc quản lý công trình thủy lợi 1. Phân loại công trình thủy lợi “Theo điều 4, Chương II Nghị định 67/2018/NĐ-CP về việc phân loại và phân cấp công trình thủy lợi như sau: Loại công trình thủy lợi quy định tại khoản 2 Điều 16 Luật Thủy lợi được phân loại cụ thể như sau: 1.
Đập, hồ chứa nước quan trọng đặc biệt thuộc một trong các trường hợp sau: a) Đập có chiều cao từ 100m trở lên hoặc đập của hồ chứa nước quy định tại điểm b, điểm c khoản này; b) Hồ chứa nước có dung tích toàn bộ từ 1.000 m3 trở lên; c) Hồ chứa nước có dung tích từ 500.000 m3 mà vùng hạ du đập bị ảnh hưởng là thành phố, thị xã hoặc có công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia; d) Danh mục đập, hồ chứa nước quan trọng đặc biệt quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này. Đập, hồ chứa nước lớn thuộc một trong các trường hợp sau: a) Đập có chiều cao từ 15m đến dưới 100m hoặc đập của hồ chứa nước quy định tại điểm c khoản này; b) Đập có chiều cao từ 10m đến dưới 15m và chiều dài đập từ 500m trở lên hoặc đập có chiều cao từ 10m đến dưới 15m và có lưu lượng tràn xả lũ thiết kế trên 2.000 m3/s; c) Hồ chứa nước có dung tích toàn bộ từ 3.000 m3, trừ hồ chứa quy định tại điểm c khoản 1 Điều này. Đập, hồ chứa nước vừa thuộc một trong các trường hợp sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 10 a) Đập có chiều cao từ 10m đến dưới 15m hoặc đập của hồ chứa nước quy định tại điểm b khoản này, trừ đập quy định tại điểm b khoản 2 Điều này; b) Hồ chứa nước có dung tích toàn bộ từ 500. Đập, hồ chứa nước nhỏ là đập có chiều cao dưới 10m hoặc hồ chứa nước có dung tích toàn bộ dưới 500.
Trạm bơm: a) Trạm bơm lớn là trạm bơm có tổng lưu lượng từ 72.000 m3/h trở lên; b) Trạm bơm vừa là trạm bơm có tổng lưu lượng từ 3.000m3/h hoặc trạm bơm nhỏ nhưng có công suất động cơ mỗi tổ máy từ 150 KW trở lên; c) Trạm bơm nhỏ là trạm bơm có tổng lưu lượng dưới 3. Cống: a) Cống lớn là cống có tổng chiều rộng thoát nước: Đối với vùng đồng bằng sông Cửu Long từ 30m trở lên; Đối với vùng còn lại từ 20m trở lên. b) Cống vừa là cống có tổng chiều rộng thoát nước: Đối với vùng đồng bằng sông Cửu Long từ 10m đến dưới 30m; Đối với các vùng còn lại từ 5m đến dưới 20m. c) Cống nhỏ là cống có tổng chiều rộng thoát nước: Đối với vùng đồng bằng sông Cửu Long dưới 10m; Đối với các vùng còn lại dưới 5 m.
Hệ thống dẫn, chuyển nước: a) Kênh, mương, rạch, tuynel, xi phông, cầu máng lớn là công trình có các thông số: Đối với vùng đồng bằng sông Cửu Long có lưu lượng từ 100 m3/s trở lên hoặc có chiều rộng đáy kênh từ 50m trở lên; Đối với các vùng khác có lưu lượng từ 50 m3/s trở lên hoặc có chiều rộng đáy kênh từ 25m trở lên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 11 b) Kênh, mương, rạch, xi phông, cầu máng vừa là công trình có thông số: Đối với vùng đồng bằng sông Cửu Long có lưu lượng từ 10m3/s đến dưới 100m3/s hoặc chiều rộng đáy kênh từ 10m đến dưới 50m; Đối với các vùng khác có lưu lượng từ 5 m3/s đến dưới 50 m3/s hoặc chiều rộng đáy kênh từ 5m đến dưới 25m. c) Kênh, mương, rạch, tuynel, xi phông, cầu máng nhỏ là công trình có các thông số: Đối với vùng đồng bằng sông Cửu Long có lưu lượng dưới 10 m3/s hoặc chiều rộng đáy kênh dưới 10m; Đối với các vùng khác có lưu lượng dưới 5 m3/s hoặc chiều rộng đáy kênh dưới 5m. Đường ống: a) Đường ống lớn là đường ống dẫn lưu lượng từ 3 m3/s trở lên hoặc có đường kính trong từ 1500mm trở lên; b) Đường ống vừa là đường ống dẫn lưu lượng từ 0,25m3/s đến dưới 3 m3/s hoặc có đường kính trong từ 500mm đến dưới 1500mm; c) Đường ống nhỏ là đường ống dẫn lưu lượng dưới 0,25 m3/s hoặc có đường kính trong dưới 500mm.
Bờ bao thủy lợi: a) Bờ bao lớn là bờ bao bảo vệ cho khu vực có diện tích từ 10.000 ha trở lên; b) Bờ bao vừa là bờ bao bảo vệ cho khu vực có diện tích từ 500 ha đến dưới 10.000 ha; c) Bờ bao nhỏ là bờ bao bảo vệ cho khu vực có diện tích dưới 500 ha.