CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIÊN NGUÒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 MOT SO KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIÊN NGUÒN NHÂN LUC 1.1 Nhân lực Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người có thể hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người có đủ điều kiệ để tham gia vào quá trình lao động. Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người, bao. gồm thể lực, trí lực và nhân cách.
Nhân lực, theo nghĩa đen, chỉ là sức người, bao hàm cả sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần. Sức người không chỉ là tài mà còn bao hàm cả đức - cái gốc của con người 1.2 Nguồn nhân lực Có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực. Theo giáo trình nguồn nhân lực của trường Đại học Lao động - Xã hội do PGS. Nguyễn Tiệp chủ biên, in năm 2005 thì “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động” [§, Tr.
Khái niệm này chỉ nguồn nhân lực với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội Theo luận án Tiến sĩ triết học về nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tác giả TS Đoàn Khải cho rằng: “Nguồn lực con người là khái niệm chỉ dân SỐ, cơ cấu dân số và nhất là chất lượng con người với tất cả đặc điểm và sức mạnh của nó trong sự phát triển xã hội” [4, tr. Theo Giáo sư, Viện sĩ Phạm Minh Hạc cho rằng: xét trên bình diện quốc gia hay địa phương, nguồn nhân lực được xác định là “ tổng thẻ các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương, tức là nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung) bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của chuyển đổi cơ cấu lao động, chuyển đổi cơ cầu kinh tế theo hướng CNH, HĐH “ [3,tr. Theo Begg, Fircher và Dornbush, khác với nguồn lực vật chất khác, nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai. Giống như nguồn lực vật chất, nguồn lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích tạo ra thu nhập trong tương lai.
Tuy nhiên, khác với các nguồn lực vật chất khác, nguồn lực là con người lao động có nhân cách (có trí thức, kỹ năng, nghề nghiệp và hoạt động xã hội, có các phẩm chất tâm lý như động cơ, thái độ ứng xử với các tình huống trong cuộc sống), có khả năng tích lũy kinh nghiệm nghề nghiệp và vốn sống. Từ các khái niệm trên ta có thê thấy xét về tổng thể, nguồn nhân lực là tiềm năng lao động của con người trên các mặt số lượng (quy mô dân só, số người lao động), cơ cấu (độ tuổi, giới tính, phân bố.), và chất lượng (phẩm chất, năng lực: thể lực, trí lực, tâm lực, kỹ năng nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức.) đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước, tạo nên năng, lực cạnh tranh trong phạm vi quốc gia cững như trên thị trường quốc tế.3 Phát triển nguồn nhân lực Phát triển nguồn Nhân lực có nhiều quan điểm khác nhau: Theo quan điểm của Tổ chức giáo dục- khoa học và văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) thi phat trién nguồn nhân lực được đặc trưng bởi toàn bộ sự lành nghề của dân cư trong mối quan hệ phát triển đất nước. Tổ chức lao động của thế giới (ILO) lại cho rằng phat trién NNL bao hàm phạm vi rộng hơn, không chỉ trình độ lành nghề hoặc vấn đề đào tao noi chung, mà còn là sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó vào việc làm có hiệu quả, cũng như thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân.VS Phạm Minh Hạc: “PTNNL được hiểu về cơ bản là tăng giá trị cho con người, trên các mặt đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thể lực., làm cho con người trở thành những người lao động có năng lực và phẩm chất mới và cả đáp ứng được yêu cầu to lớn của sự phát triển kinh tế xã hội, của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [3,tr. Bùi Văn Nhơn trong sách Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội xuất bản năm 2006: “Phát triển nguồn nhân lực là tông thẻ các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho nguồn nhân lực (trí tuệ, thể chất, và phẩm chất tâm lý xã hội) nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển” [5, tr.
Theo sách Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo: Kinh nghiệm Đông Á của Viện Kinh tế thế giới xuất bản năm 2003: “Phá: triển nguồn nhân lực, xét từ góc độ một đất nước là quá trình tạo dựng lực lượng lao động năng động có kỹ năng và sử dụng chúng có hiệu quả, xét từ góc độ cá nhân là việc nâng cao kỹ năng, năng lực hành động và chất lượng cuộc sống nhằm nâng cao năng suất lao động và thu nhập. PTNNL là các hoạt động nhằm nâng cao và khuyến khích đóng góp tốt hơn kiến thức và thể lực của người lao động, đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu sản xuất. Kiến thức có được nhờ quá trình đào tạo và tiếp thu kinh nghiệm, trong khi đó thể lực có được nhờ chế độ dinh dưỡng, rèn luyện thân thể và chăm sóc y tế” [12. Tr 16-17] Như vậy, nguồn nhân lực dùng để chỉ sức người gồm cả khả năng và phẩm chất tham gia vào lao động sản xuất.
Nói đếnn guồn nhân lực tức là nói đến những gì cấu thành khả năng, năng lực và sức mạnh sáng tạo của con người. Điều quan trọng nhất trong nguồn nhân lực không phải là số lượng mà là chất lượng. Nói đến chất lượng nguồn nhân lực là nói đến hàm lượng trí tuệ trong đó “người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp”. Trong nguồn nhân lực có sự kết hợp giữa thể lực, trí lực và nhân cách.
Ngoài ra, cái làm nên nguồn nhân lực còn là kinh nghiệm sống, là nhu cầu và thói quen vận dụng tổng hợp tri thức và kinh nghiệm của mình, của cộng đồng vào các hoạt động vật chất như các hoạt động chính trị - xã hội và hoạt động thực nghiệm của con người. Xét theo nghĩa đó, nguồn nhân luc bao gồm toàn bộ sự phong thú, sự sâu sắc của các năng lực trí tuệ, năng lực thực hành, tổ chức, quản lý, tính tháo vát và những phản ứng của con người trước mọi hoàn cảnh. Những năng lực đó chỉ xuất hiện trên cơ sở của trình độ học vấn, kinh nghiệp, sự mở rộng các quan hệ xã hội, sự tiếp thu tỉnh thế các ảnh hưởng văn hóa truyền thống từ gia đình tới xã hội, từ cộng đồng quốc gia đến khu vực, quốc tế. Vì vậy, khi xem xét cấu trúc nguồn nhân lực phải tính đến phương diện cá thể của nó gồm: thể lực, trí tuệ và đạo đức.
Phát triển nguồn nhân lực thực chất là tạo ra sự thay đổi, gia tăng về chất lượng của nguồn nhân lực, gồm năng lực (kiến thức, kỹ năng, hành vi và thái độ) và động lực thúc đây người lao động để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của tỗ chức. Đó cũng chính là nội dung của phát triển nguồn nhân lực.2 PHÁT TRIÊN NGUÒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP.1 Khái niệm doanh nghiệp Doanh nghiệp hay đúng ra là doanh thương là một tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh [17]. Cũng theo Luật doanh nghiệp 2005 giải thích, Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Như vậy doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi, mặc dù thực tế một số tổ chức doanh nghiệp có các hoạt động không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi nhuận.2 Phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Theo PGS.
TS Nguyễn Ngọc Quân, Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tắt cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó; còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm thể lực và trí lực [10, tr. Nguồn nhân lực của doanh nghiệp được hiểu là nguồn lực con người, là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh. Hoặc, nguồn nhân lực của doanh nghiệp là tổng hợp các cá nhân con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tống thẻ các yếu tố về thể chất và tỉnh thần được huy động vào quá trình lao động. Phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là tập hợp tất cả các hoạt động do doanh nghiệp tác động đến người lao động trong một khoảng thời gian nhất định nhằm nâng cao khả năng, trình độ nghề nghiệp cũng như thay đôi thái độ, cách thức làm việc của người lao động, để giúp họ có thể thực hiện một cách hiệu quả hơn chức năng nhiệm vụ của mình.
Lĩnh vực phát triển nguồn Nhân lực được coi là ởcấp độ đào tạo nhân viên cao hơn so với các lĩnh vực khác. Mục đích của giáo dục đào tạo là cần những sự tiến bộ nhanh chóng trong công việc của người lao động trong khi đó mục đích của phát triển nguồn Nhân lực lại tạo ra một nguồn lao động đủ khả năng cho công việc, tổ chức trong tương lai. Sự khác biệt này sẽ được thé hiện dưới dạng bảng sau: 10 Bảng 1.1 So sánh giữa đào tạo và phát triển GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO PHAT TRIEN Tập trung Công việc hiện tại. hiện tại và tương lai.
Pham vi Cá nhân người lao động. Tô chức theo nhóm. Thời gian Ngắn, ngay lập tức. Trong khoảng thời gian dài Mục đích Bồ sung các kỹ năng còn | Chuẩn bị cho nhu cầu công việc yếu kém trong tương lai 1.3 Ý nghĩa phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Phát triển nguồn nhân lực có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm — tài chính.