Chương 1: Những van đề lý luận về quyên SHTT và sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quyền SHCN - Chương 2: Những tôn tại, bất cập trong pháp luật Việt Nam về quyền SHCN và kiến nghị hoàn thiện. 12 TỎNG QUAN ĐÈ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC HOÀN THIỆN PHAP LUẬT VIỆT NAM VE BẢO HỘ QUYEN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP CHUONG 1. NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE QUYEN SỞ HỮU CONG NGHIEP VA SU CAN THIET CUA VIEC HOAN THIEN PHAP LUAT VIET NAM VE BAO HO QUYEN SO HUU CONG NGHIEP 1. Khái quát về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp 1.
Khái niệm và đặc điểm của quyền sở hữu trí tuệ Thuật ngữ “Sở hữu trí tuệ” (SHTT) ngày càng được nhắc tới thường xuyên va pho biến trong hầu hết các lĩnh vực bởi sự hiện diện ngày càng rõ nét và tác động mạnh mẽ của nó trong quan hệ sản xuất kinh doanh và thương mại quốc tế, ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng cuộc song cua nhan loai. SHTT 1a thuat ngữ mô tả những ý tưởng, sang chế, công nghệ, tác phẩm nghệ thuật, âm nhạc và văn học, những cái vô hình khi mới được tạo ra nhưng trở nên đáng giá dưới dạng sản phẩm hữu hình”. SHTT (Interlectual property) hay tài sản trí tuệ là sản phẩm của quá trình sáng tạo của con người được thể hiện dưới hai dạng chủ yếu là quyền SHCN (quyên đối sáng chế, KDCN, nhãn hiệu. Đây là loại tài sản phi vật chất nhưng có giá trị kinh tế - tinh thần vô cùng to lớn, góp phần quan trọng trong việc thúc đây sự phát triển của kinh tế- xã hội, khoa học kỹ thuật của quốc gia và nên văn minh nhân loại.
Quyền SHTT được đảm bảo bằng pháp luật về SHTT của mỗi quốc gia và hệ thống luật quốc tế. Theo Tổ chức SHTT Thế giới (WIPO): “Quyển SHTT bao gom các quyên đổi với các tác phám văn học, nghệ thuật và khoa học; các 4 WIPO, Kamil Idris: “SHTT — một công cụ đắc lực dé phat trién kinh tế”, trang 8 13 quyên liên quan đến hoạt động của các nghệ sĩ biểu diễn, sản xuất bản ghi âm, chương trình phát song; quyên đối với sáng chế ở tat cả các lĩnh vực hoạt động của con người, phat mình khoa học, KDCN, nhãn hiệu hang hóa và nhãn hiệu dich vụ; tên thương mại; quyên chống cạnh tranh không lành mạnh; các quyên khác liên quan đến hoạt động trí tuệ trong các lĩnh vực nông nghiệp, khoa học, văn học và nghệ thuật ”!% Đến nay, danh mục các quyền SHTT được liệt kê chi tiết và mở rộng hơn trong pháp luật của các quốc gia và một số điều ước quốc tế. Phần 2 Hiệp định TRIPS liệt kê các đối tượng quyền SHTT bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan, nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, KDCN, sáng chế, thiết kế bố trí mạch tích hop ban dan, thong tin mat. Nhu vậy, từ ba đối tượng đầu tiên là sáng chế, nhãn hiệu và tác phẩm nghệ thuật, hệ thống SHTT hiện đại đã có phạm vi điều chỉnh rộng lớn, bao quát hoạt động sáng tạo của nhân loại.
Tại thời điểm hiện tại ba nhánh cơ bản của quyền sở hữu trí tuệ là quyền SHCN, quyên tác giả và quyền đối với giống cây trồng là những đối tượng mang lại cho quyền SHTT vị trí đặc biệt trong sự phát triển kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia cũng như sự phát triển của nhân loại. Luật SHTT của Việt Nam chia rõ quyền SHTT gồm ba mang là quyên tác giả và quyền liên quan, quyền SHCN và quyền đối với giống cây trồng. Theo nghĩa khách quan, Quyền SHTT là tông hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình xác lập, khai thác, sử dụng, bảo vệ các đối tượng SHTT. Theo nghĩa chủ quan, quyền SHTT là quyền sở hữu của tô chức, cá nhân đối với những tài sản trí tuệ đo con người sáng tạo.
Đó là độc quyền được Nhà nước trao cho một người, một nhóm người hoặc một tô chức dé khai thác, sử dụng, định đoạt những sản phẩm của hoạt động sáng tạo trí tuệ. Khoản 1 Điều 4 Luật SHTT Việt Nam định nghĩa: “Quyến SHTT là quyên của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến, quyên SHCN và quyền đối với giống cây trồng”.viii Công ước Stockholm thành lập WIPO 14 Đặc điểm của quyền sở hữu trí tuệ Là một dạng đặc biệt của quyền sở hữu, quyền SHTT có một số đặc trưng riêng biệt so với quyền sở hữu tài sản thông thường Về doi tượng: Phân lớn các đối tượng SHTT có tính sáng tạo. Các đối tượng SHTT (sáng chế, KDCN, tác phẩm, cuộc biểu diễn, giống cây trồng.) là kết quả của hoạt động sáng tạo, được tạo ra từ tư duy tưởng tượng và sáng tạo, kết tinh của trí tuệ con người để giải quyết các vấn đề về kỹ thuật và nghệ thuật dựa trên nền tảng tri thức và thông tin đã được kết tụ, tích luỹ. Các đối tượng SHTT déu có tính vô hình hay nói cách khác là tính phi vật thé.
Các đối tượng SHTT khác với tài sản hữu hình ở chỗ chúng không có ban chất vật lý (không thê nhận biết sự tồn tại của chúng nhờ các giác quan) và tồn tại dưới dạng các thông tin, tri thức chứa đựng nhận thức về tự nhiên, xã hội và con người. Tuy vô hình, các đối tượng này cũng mang đặc tính xác định được (về bản chất - nội dung, phạm vi - giới hạn, chức năng, công dung và kê cả về giá trỊ). Các đối tượng SHTT có thể dễ dang được sử dụng độc lập bởi nhiễu chủ thé khác nhau trong không gian, thời gian khác nhau. Các đỗi tượng SHTT do thuộc tính phi vật thé, dé lan truyền và không chi tồn tại ở một địa điểm nhất định nên khó kiểm soát việc chiếm hữu như các tài sản hữu hình.
Do việc khó kiểm soát sự chiếm hữu các đối tượng SHTT, nên đưới góc độ pháp lý đây là tài sản rat dé bị xâm phạm (bị sao chép, bắt chước. Về phạm vi quyền: Quyền SHTT bao gồm cả các quyền nhân thân và quyên tai sản. Mặc dù quyền sở hữu nói chung mang bản chất là quyền tài sản, nhưng đối với quyền SHTT, bên cạnh việc bảo vệ các quyền tài sản của chủ sở hữu, pháp luật cũng ghi nhận cả các quyên nhân thân cho chủ thé sáng tạo. Về nội dung quyên: Do ban chất đối tượng SHTT là tài sản vô hình, nên việc năm giữ, quản lý nó không thể thực hiện được như các tài sản thông thường, quyền chiếm hữu tài sản trí tuệ không có ý nghĩa khi đối tượng SHTT 15 đã được công bố hay sử dụng trên thực tế.
Vì vậy, quyền SHTT về bản chat chi tập trung vào độc quyền sử dụng đối tượng SHTT (bao gồm cả quyền cho phép hoặc quyền ngăn cam người khác sử dung đối tượng SHTT; quyền định đoạt đối tượng SHTT). Về căn cứ xác lập quyền sở hữu: Quyền SHTT chi được xác lập dựa trên những căn cứ do pháp luật quy định. Quyền SHTT được xác lập dựa trên hai nhóm căn cứ chủ yéu: (i) Nhóm quyên phát sinh tự động cùng với sự ra đời của tài sản trí tuệ mà không cần phải tiến hành thủ tục đăng ký tại cơ quan nhà nước có thầm quyên (quyền tác giả, quyền liên quan) hoặc trên cơ sở sử dụng hợp pháp (quyền SHCN đối với tên thương mại, quyền SHCN đối với bí mật kinh doanh, quyền SHCN đối với nhãn hiệu nổi tiếng).'" (ii) Nhóm quyên phát sinh trên cơ sở đăng ký. Ví dụ, quyền SHCN đối với sáng chế, KDCN, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chi dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bang bảo hộ của cơ quan nhà nước có thấm quyền theo thủ tục đăng ký.“ Về giới hạn quyên: Khác với quyền sở hữu tài sản thông thường, quyền SHTT là loại quyền được bảo hộ có tính “giới hạn”.
Bảo hộ quyền SHTT có mục đích khuyến khích hoạt động sáng tạo bằng cách dành cho chủ sở hữu độc quyền sử dụng, khai thác đối tượng SHTT trong một khoảng thời gian nhất định và đổi lại, chủ sở hữu phải đưa tài sản trí tuệ của mình phục vụ lợi ích chung của xã hội. Độc quyền dù dưới bất kỳ hình thức nào nếu bị lạm dụng có thé làm ảnh hưởng đến lợi ích của bên thứ ba. Vì vậy, mục đích của pháp luật SHTT là tạo động lực thúc day phát triển văn hóa, khoa học kỹ thuật nhưng quyền SHTT không được cản trở hay gây ảnh hưởng đến lợi ích công cộng và sự phát triển của xã hội. Nguyên tắc cân bằng lợi ích là nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt trong các quy định về bảo hộ quyền SHTT nhằm dung hòa lợi ích của chủ sở hữu đối tượng SHTT với lợi ích chung của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ ! Xem Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ 2 Xem Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ 16 thé khác.
Học thuyết về cân bằng lợi ich được thừa nhận chung giúp định hình nên nguyên tắc điều chỉnh đặc thù của luật SHTT là bảo đảm sự bình đăng của các chủ thể trong phân chia các lợi ích thu được từ đối tượng SHTT. Sự can băng lợi ích trong các quan hệ pháp luật SHTT thê hiện tập trung thông qua sự cân bằng lợi ích giữa chủ sở hữu đối tượng SHTT với cộng đồng. Chính sự cân bằng lợi ích mới đảm bảo cho khả năng độc quyền của chủ sở hữu trong sử dụng, khai thác đối tượng SHTT va cộng đồng thừa nhận sự độc quyền này dé đổi lay sự phát triển chung cho toàn xã hội. Việc đảm bảo cạnh tranh lành mạnh trong các hoạt động liên quan đến quyền SHTT có ý nghĩa rất quan trọng, là thước đo thực tiễn của nguyên tắc đảm bảo sự cân bằng lợi ích.
Một mặt, quyền SHTT tạo ra độc quyền cho chủ sở hữu đối tượng SHTT, mặt khác độc quyên này lại không được cản trở, gây thiệt hại một cách không phù hợp cho hoạt động cạnh tranh lành mạnh trên thị trường. Chính vì vậy, các nhà lập pháp luôn phải tính đến các công cụ nhằm hạn chế độc quyền của chủ sở hữu một cách hợp lý nhằm đảm bảo không chỉ sự cân bằng lợi ích mà còn cả môi trường cạnh tranh lành mạnh.