Chương 1. Những vấn đề lý luận về người lao động chưa thành niên và pháp luật về người lao động chưa thành niên trong điều kiện hội nhập quốc tế. Thực trạng pháp luật về người lao động chưa thành niên. Hoàn thiện các quy định pháp luật về người lao động chưa thành niên trong điều kiện hội nhập quốc tế.
11 z CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƢỜI LAO ĐỘNG CHƢA THÀNH NIÊN VÀ PHÁP LUẬT VỀ NGƢỜI LAO ĐỘNG CHƢA THÀNH NIÊN TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ. Ngƣời lao động chƣa thành niên–một loại lao động có đặc điểm riêng 1. Khái niệm người lao động chưa thành niên 1. Khái niệm người chưa thành niên Ngày nay người ta đã thừa nhận rằng, sự phát triển của con người là một quá trình liên tục, diễn ra trong suốt cuộc đời.
Ở mỗi giai đoạn phát triển cá thể, cơ thể của mỗi người là một chỉnh thể hài hoà với những đặc điểm riêng vốn có đối với giai đoạn tuổi đó. Mỗi giai đoạn tuổi này có thể được xác định dựa trên nhiều cơ sở khác nhau, như dựa trên tuổi xương (skeletal age), tuổi răng (dental age), tuổi dậy thì (sexual age), tuổi thời gian (chronological age)… Tuổi xương cho biết mức độ sinh học về sự phát triển của xương. Tuổi này có thể được xác định một cách rất chính xác bằng cách chụp X quang các xương cổ tay và cổ chân. Tuổi xương thường được sử dụng như một công cụ nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, ít được sử dụng ngoài phòng thí nghiệm vì chi phí cao, không tiện dụng và nhất là gây tác hại do bức xạ.
Tuổi răng dựa trên trật tự phát triển kế tiếp của răng từ hình dáng ban đầu của núm răng đến chân răng giúp ta đo được tuổi canxi hoá của răng từ đó xác định được các giai đoạn phát triển của mỗi người. Tuy nhiên, cũng như cách tính tuổi xương, cách tính tuổi răng phức tạp nên ít được sử dụng trong thực tế. Tuổi dậy thì dựa trên sự trưởng thành sinh dục được xác định bởi sự xuất hiện của các dấu hiệu sinh dục phụ và chính. Phương pháp này ít được sử dụng vì những lý do xã hội và văn hoá.
12 z Tuổi thời gian là cách tính dựa trên thời gian là tháng hay năm. Cách này được sử dụng rộng rãi nhất vì không phức tạp, dễ tính và được coi như bất biến đối với tất cả mọi người. Căn cứ theo ngày tháng năm sinh của một người nào đó, ta có thể dễ dàng tính được tuổi của họ theo số năm, tháng và ngày. Như vậy, có thể thấy việc xác định mỗi giai đoạn phát triển của con người dựa trên cách tính tuổi thời gian là thuận tiện và thông dụng hơn so với các cách khác.
Việc xác định giai đoạn chưa trưởng thành của con người, hay còn gọi là người chưa thành niên cũng được dựa trên cơ sở cách tính tuổi thời gian [84]. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào cách tiếp cận cũng như đặc thù của mỗi chuyên ngành mà người chưa thành niên được hiểu và giải thích theo những cách thức riêng. Thứ nhất, theo quan điểm của ngành nhân trắc học, thường dùng chỉ số đo chiều cao đứng và chiều cao ngồi để xác định sự phát triển của con người, người chưa thành niên là người ở trong giai đoạn phát triển nhanh nhất về chiều cao. Dựa trên quá trình phát triển về nhân trắc thì có hai mốc quan trọng đáng chú ý về người chưa thành niên.
Mốc thứ nhất, từ tuổi dậy thì, bắt đầu từ tuổi 12 đến tuổi 17 ở nữ và tuổi 18 với nam. Trong giai đoạn này, chiều cao phát triển nhanh nhưng vào cuối giai đoạn (tức tuổi 17, tuổi 18) chiều cao phát triển chậm hẳn lại, đây là tuổi người chưa thành niên bắt đầu chuyển sang tuổi trưởng thành. Mốc thứ hai, từ tuổi dậy thì bắt đầu từ tuổi 12 đến tuổi 19-20 ở nữ và 21-22 ở nam là tuổi chiều cao ngồi đã đạt tới đỉnh, chiều cao đứng cũng đã hoặc sắp đạt tới đỉnh của sự tăng trưởng, cân nặng và vòng ngực đã đến một giai đoạn đỉnh điểm của sự tăng trưởng, tạm dừng và giảm sút ít nhiều ở nữ; trước khi ổn định và tiếp tục phát triển trở lại, thể lực của hai giới cũng đã bắt đầu đạt mức trung bình của người trưởng thành. Theo ngành này, tuổi 19-20 ở nữ và tuổi 21-22 ở nam được đánh dấu là điểm giới hạn của người chưa thành niên chuyển thành người trưởng thành, vì điểm giới 13 z hạn này đã đạt tới chỉ số cuối cùng đo chiều cao đứng và chiều cao ngồi khi xác định sự phát triển của con người [84].
Thứ hai, theo ngành tâm lý học là ngành thường dựa trên sự phát triển về cảm xúc, tư duy để phân biệt các giai đoạn phát triển khác nhau của con người, người chưa thành niên được coi là những người trong nhóm từ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi. Các nhà tâm lý học cho rằng, giai đoạn này, người chưa thành niên đa số vẫn là học sinh. Trong những năm cuối học phổ thông, người chưa thành niên đã nắm được các thao tác trí tuệ phức tạp, có vốn kiến thức khá phong phú làm cho hoạt động trí tuệ của họ trở nên bền vững và có hiệu quả. Sự phân hoá ngày càng rõ nét của tâm lý làm cho cấu trúc của hoạt động trí tuệ của người chưa thành niên cũng trở nên phức tạp và có tính cá biệt hơn nhiều so với học sinh cấp dưới.
Mặt khác, ở giai đoạn này, do yêu cầu của nội dung chương trình, do tính chất của hoạt động học tập, học sinh cần phải nắm được các kỹ năng suy nghĩ độc lập, nắm được các phương pháp và kỹ thuật hoạt động trí tuệ độc lập, phải biết tự học. Những đòi hỏi đó đã thúc đẩy sự phát triển tư duy ở người chưa thành niên. Họ đã hoàn toàn có khả năng tư duy lý luận và tư duy trừu tượng một cách độc lập, sáng tạo về những đối tượng quen biết đã được học ở trường hoặc chưa được học. Tư duy trừu tượng của họ đã phát triển và đạt mức cao tầm của người trưởng thành.
Năng lực quan sát, tổng hợp, phân tích có tính logic hơn. Năng lực trí tuệ tiếp tục phát triển và hoàn thiện tối đa 100% và muốn sáng tạo theo sự tưởng tượng của mình, như thế giới phải được tổ chức ra sao và làm thế nào để cho tốt đẹp hơn. Do đó, lứa tuổi này cố gắng biến một số trong các ý tưởng đó thành hành động. Ở tuổi này các em bắt đầu có suy nghĩ về hướng nghiệp nghề nghiệp một cách hiện thực, đặc biệt ở cuối lứa tuổi này, nhiều em có khả năng tạo ra của cải vật chất và kiếm tiền.
Đây là những đặc điểm trí tuệ nổi bật của người chưa thành niên và được xem là những khả năng ban đầu có thể đáp ứng được những yêu cầu trong các lĩnh vực hoạt động của người lớn. Do đó, có thể nói, 14 z bước qua tuổi 18, người chưa thành niên có đủ năng lực trí tuệ để đảm đương trách nhiệm của một người trưởng thành [84]. Thứ ba, theo quan điểm của ngành sinh học, tương tự như quan niệm của ngành tâm lý học, người chưa thành niên là những người trong lứa tuổi từ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi. Theo họ, đây là giai đoạn con người đang ở thời kỳ hoàn thiện và chín muồi về mặt thể chất.
Đa số nữ và nam bước vào thời kỳ này đã sau dậy thì, nhưng vẫn phải “hoàn thành nốt” nhiệm vụ và khắc phục tình trạng mất cân đối do sự chín muồi không đồng đều. Đến cuối thời kỳ này, trong đa số trường hợp các quá trình chín muồi sinh học cơ bản đã được hoàn thiện đến mức có thể coi sự phát triển về sau là thuộc tính về chu kỳ người lớn. Ở Việt Nam, từ 15 tuổi đến 18 tuổi thường tương ứng với lứa tuổi học sinh lớn, học sinh trung học phổ thông. Ở cuối lứa tuổi này, cơ thể của nam, nữ đã trưởng thành và sự phát triển thể chất của họ ít khác với sự phát triển của người lớn.
Thời kỳ trưởng thành và phát triển cơ thể mạnh mẽ và không đồng đều đặc trưng cho lứa tuổi chưa thành niên đã kết thúc và bắt đầu thời kỳ phát triển tương đối êm ả về mặt thể chất. Ở cuối tuổi này, những yếu tố thể lực như chiều cao, trọng lượng đã tương đối ổn định. Nhịp độ phát triển chiều cao chậm lại một cách rõ rệt. Sức mạnh cơ bắp và khả năng làm việc tăng tiến rõ rệt, thể tích lồng ngực tăng lên, hệ xương và các xương ống đã hoàn toàn được cốt hoá, sự hình thành và phát triển về mặt chức năng của các mô và các cơ quan đã kết thúc.
Thông thường, sự phát triển không cân đối của tim và các mạch máu đặc trưng cho lứa tuổi này đã trở nên cân bằng, dịu đi, huyết áp được điều hoà, hoạt động của các tuyến nội tiết đã trở nên nhịp nhàng. Ở độ tuổi này, những biến đổi trong sự phát triển của cả hệ thần kinh nói chung và não bộ nói riêng cũng được xác định. Hơn nữa, những biến đổi đó xẩy ra không phải do khối lượng não bộ tăng lên mà là do cấu trúc bên trong của tế bào não phức tạp thêm lên bởi sự phát triển về mặt chức năng của 15 z bộ não. Dần dần, cấu tạo của tế bào vỏ bán cầu đại não có những đặc điểm giống như cấu tạo tế bào não ở người lớn.
Số lượng dây thần kinh liên hợp, nối các thành phần khác nhau của vỏ não tăng lên. Kết quả là tạo ra được những tiền đề cần thiết cho sự phức tạp hoá hoạt động trí tuệ (phân tích, tổng hợp, so sánh…). Do vậy, vào cuối tuổi 18, về mặt thể chất, con người đã đủ khả năng thực hiện các nhiệm vụ đòi hỏi về sức khoẻ như sinh sản, lao động [84]. Thứ tư, các nhà luật học sử dụng thuật ngữ người chưa thành niên để nhấn mạnh tới những giới hạn về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý đối với đối tượng đặc thù này, thông qua đó để có những quy định cụ thể, phù hợp nhằm phân biệt với những nhóm đối tượng khác.
Với tính chất như vậy, người chưa thành niên có thể gồm tất cả những người dưới 18 tuổi (hoặc trên dưới một độ tuổi nhất định), nhóm tuổi về cơ bản chưa phải chịu hoặc chịu một phần trách nhiệm pháp lý đối với hành vi của mình hoặc bị giới hạn về một số quyền và nghĩa vụ.