Chương I - Thương mại hàng hóa); Quy định về mở cửa thị trường va dành đối xử quốc gia cho nhà cung cấp dịch vụ Hoa Kỳ dưới hình thức "hiện diện thương mai" (Phụ lục G, Chương III - Thương mại dịch vụ); Quy định về việc tạo, điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của công dân, công ty Hoa Kỳ (Chương V - Tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh); Quy định về giao dịch và chuyển tiền qua biên giới áp dụng đối với hoạt động thương mai, dịch vu va đầu tư của các công dân, công ty Hoa Kỳ (Chương VII - Những quy định chung). Những nội dung chủ yếu của Chương Đầu tư Chương Đầu tư và Phụ lục bảo lưu chế độ đối xử quốc gia về đầu tư được đàm phán với mục tiêu tổng thể là tạo môi trường đầu tư, môi trường kinh doanh thông thoáng, thuận lợi hơn nữa cho hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Trừ Phụ lục H, quy định về đối xử quốc gia (Điều 2, Chương 4) và quy định về phạm vi "áp dụng đối với tổ chức chính trị phụ thuộc" (Điều 12, Chương 4), nội dung các điều khoản của Chương Đầu tư về cơ bản không có nhiều khác biệt so với các Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ đầu tư song phương ta đã ký với các nước cũng như Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN (AIA) đã được phê chuẩn. ta cam kết từng bước dành đối xử quốc gia cho nhà đầu tư Hoa Kỳ với những nội dung chủ yếu sau đây: - Xóa bỏ trong vòng từ 5 - 7 nam các yêu cầu về xuất khẩu, phát triển nguồn nguyên liệu trong nước, nội địa hóa.
đối với đầu tư của Hoa Kỳ trong một số ngành sản xuất, chế tạo. 15 - Từng bước thu hep, tiến tới xóa bỏ những biệt lệ trong tổ chức va hoạt động giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư của Hoa Kỳ, bao gồm các vấn đề như: xóa bỏ trong vòng 3 năm các hạn chế về vốn đầu tư, về nguyên tắc nhất trí đối với một số vấn đề quan trọng nhất trong tổ chức và hoạt động của Hội đồng quản trị doanh nghiệp liên doanh; cho phép nhà đầu tư Hoa Kỳ được thành lập công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư của Hoa Kỳ được cổ phần hóa. - Xóa bỏ trong vòng 4 năm su phân biệt về gid, phí một số hang hóa, dịch vu giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư của Hoa Kỳ (gồm giá điện. nước, viễn thông, dịch vụ du lịch, vé máy bay.
- Tao điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp có vốn đầu tư của Hoa Kỳ trong việc sử dụng đất đai, tuyển dụng lao động, chuyển giao công nghệ. trong vòng 2-9 năm, nhà đầu tư Hoa Kỳ được thực hiện chế độ đăng ký cấp giấy phép đầu tư đối với các dự án thuộc lĩnh vực sản xuất, chế tạo; được thế chấp quyền sử dụng đất tại các tổ chức tín dụng hoạt động ở Việt Nam. Ngay sau ngày Hiệp định có hiệu lực, doanh nghiệp có vốn đầu tư của Hoa Kỳ được chuyển giao công nghệ phù hợp với nguyên tắc của WTO, được trực tiếp tuyển dụng nhân viên quản lý chủ chốt nước ngoài phù hợp với pháp luật về xuất, nhập cảnh; được lựa chọn cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư phù hợp với thông lệ quốc tế. Đánh giá về các tác động của Chương Đầu tư Về hình thức, Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ chỉ mang tính chất song phương.
Song, về tính chất, Hiệp định thể hiện những cam kết cao nhất từ trước đến nay của Việt Nam trong việc dành chế độ đối xử cũng như tự do hoá thương mại và đầu tư. Mặt khác, các cam kết mà ta đưa ra trong Hiệp định này sẽ không chỉ áp dụng đối với phía Hoa Kỳ mà sẽ được áp dụng với tất cả các nước khác được ta cam kết dành chế độ đối xử MEN. Do vay, những tác động của Hiệp định (Chương Dau, tư) đối với môi trường đầu tư nước ngoài nói chung và pháp luật đầu tư nước ngoài nói riêng, có thể được đánh giá như sau: 16 Những mặi tích cực Ngoài một số ít điều khoản khá cứng rắn của Hoa Kỳ (như phạm vi áp dụng Chương Dau tư.), nhiều điều khoản của Chương nay phù hợp với những quy định của WTO mà sớm muộn khi gia nhập Tổ chức này ta cũng phải thực hiện. Hơn thế nữa, một số cam kết đã thỏa thuận đều là những vấn đề mà thực tiễn hoạt động đầu tư nước ngoài của ta đang đặt ra, đòi hỏi phải giải quyết nhằm thu hút đầu tư nước ngoài với số lượng nhiều hơn và chất lượng cao hơn.
Điều đó cho thấy, những cam kết về đầu tư không phải do sức ép của Hoa Kỳ mà xuất phát trực tiếp từ lợi ích của cả hai phía. Về tổng thể, Chương Đầu tư góp phần tạo dựng môi trường đầu tư có tính hấp dẫn và cạnh tranh cao so với các nước trong khu vực, nhất là trong bối cảnh đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đang tiếp tục suy giảm, cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài giữa các nước trong khu vực và trên thế giới ngày càng trở nên gay gắt. Việc dành cho nhà đầu tư Hoa Kỳ một môi trường đầu tư thuận lợi là điều kiện và cơ sở quan trọng để chúng ta có thể thu hút một số lượng lớn các công ty Hoa Kỳ. nơi có nền kinh tế phát triển vào loại bậc nhất thế giới vào làm ăn tại Việt Nam.
Mặt khác, việc thực hiện Hiệp định cũng tạo điều kiện để ta thu hút các nhà đầu tư từ các nước khác. Chúng ta hy vọng ràng, với Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ, nhiều công ty và tập đoàn từ các nước như Nhật Bản, Đài Loan, ASEAN. sẽ mở rộng đầu tư vào Việt Nam nhằm tận dụng cơ hội xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ vào thị trường Hoa Kỳ. Cam kết xóa bỏ hạn chế trong một số lĩnh vực đầu tư tạo điều kiện để ta mở rộng, đa dạng hóa các lĩnh vực và hình thức thu hút đầu tư nước ngoài.
Lịch trình xóa bỏ yêu cầu về xuất khẩu, phát triển nguồn nguyên liệu trong nước và nội địa hóa (trong thời hạn từ 5-7 năm) không ảnh hưởng tiêu cực đến chính sách bảo hộ doanh nghiệp trong nước của ta vì thời hạn này phù hợp với cam kết thực hiện AFTA vào năm 2006. Đến thời điểm này, dù có duy trì các yêu cầu nói trên hay không thì doanh nghiệp trong nước vẫn phải cạnh tranh gay gắt hơn với hàng nhập khẩu từ các nước ASEAN do cam kết giảm thuế trong khuôn khổ AFTA. Việc xóa bỏ những ngoại lệ trong tổ chức và hoạt động giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài góp phần tạo mặt bằng [sa C QUỐC G IHÁÀ N Ộ | I X THU VIEN; 17 ` [ABA | § ee | pháp ly, tiến tới tạo dựng một đạo luật chung về đầu tư đã được đặt ra trong tiến trình xây dựng Luật Doanh nghiệp và hoàn thiện pháp luật về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Việc tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư Hoa Kỳ trong việc sử dụng đất dai, tuyển dụng lao động, chuyển giao công nghệ và từng bước thực hiện chế độ đăng ký cấp giấy phép đầu tư.
góp phần đơn giản hóa thủ tục đầu tư vốn hết sức phiền hà và đang làm nản lòng nhiều nhà đầu tư nước ngoài. Thỏa thuận xóa bỏ sự phân biệt giá, phí một số hàng hóa dich vụ giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ tạo điều kiên để các doanh nghiệp giảm chi phí đầu tư, nâng cao chất lượng và hiệu qua kinh doanh của mình. Ngoài việc tạo môi trường thông thoáng, thuận lợi cho nhà đầu tư Hoa Kỳ, những cam kết của Chương Đầu tư đã tính đến những biện pháp bảo lưu thích hợp nhằm đảm bảo chủ quyền, an ninh quốc gia cũng như lợi ích và quyền quản lý của nhà nước ta đối với hoạt động đầu tư của Hoa Kỳ, cụ thể là: - Ta được quyền bảo lưu không thời hạn chế độ đối xử quốc gia trong các lĩnh vực quan trọng liên quan đến an ninh, quốc phòng, các ngành dịch vụ và những ngành có lợi thế cạnh tranh. Đối với các lĩnh vực này, nhà đầu tư Hoa Kỳ phải thực hiện dưới những hình thức nhất định và phải tuân thủ quy hoạch phát triển của Chính phủ trong từng thời kỳ.
- Chế độ cấp phép đầu tư đối với các lĩnh vực nói trên cũng được duy trì không thời hạn hoặc phải tuân thủ các điều kiện chặt chẽ. Trên thực tế, cam kết thực hiện chế độ đăng ký cấp giấy phép đầu tư chỉ áp dụng đối với các ngành sản xuất, chế tao và về thực chất, ta vẫn được quyền cấp phép đối với các dự án này. Ngoài ra, dự án đầu tư trong một số ngành dịch vụ quan trọng quy định tại Phụ lục G (như ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ tài chính.) đều phải thực hiện chế độ cấp phép đầu tư và phải tuân thủ các tiêu chí "thận trọng" nhằm duy tri sự ổn định của hệ thống tài chính, tiền tệ. - Không có điều khoản nào thể hiện cam kết của ta dành cho nhà đầu tư Hoa Kỳ bất kỳ quyền nào liên quan đến việc sở hữu đất đai, kinh doanh bất động sản.
mua, bán cổ phần trong doanh nghiệp Nhà nước. 18 Những vấn đề đặt ra Bên cạnh những mặt tích cực nói trên, những cam kết của Chương Dau tư cũng đặt ra một số vấn đề cần có phương án xử lý thích hợp, vừa nhằm thực hiện chủ trương mở rộng, tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài, vừa đảm bảo lợi ích cũng như sự quản lý của Nhà nước đối với hoạt động này. Cam kết từng bước thực hiện chế độ đăng ký cấp giấy phép đầu tư sẽ tạo điều kiện để nhà đầu tư Hoa Kỳ được tự do hơn trong việc lựa chọn lĩnh vực, đối tác, hình thức đầu tư, tỷ lệ góp vốn, thị trường tiêu thụ sản phẩm. Vì vậy, nếu quy hoạch và chính sách của ta về các vấn dé này không rõ ràng.
cụ thể hoặc thiếu hợp lý sẽ dẫn đến việc làm suy giảm hiệu qủa quản lý nhà nước của ta đối với đầu tư nước ngoài nói chung và đầu tư của Hoa Kỳ nói riêng. Đây không chỉ là vấn đề đặt ra khi ký Hiệp định với Hoa Kỳ mà còn là yêu cầu hết sức cấp bách trong hoạt động quản lý đầu tư nước ngoài hiện nay.