phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về phân tích báo cáo tài chính khách hàng doanh nghiệp trong các ngân hàng thƣơng mại. Thực trạng phân tích báo cáo tài chính khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định. Hoàn thiện phân tích báo cáo tài chính khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm Theo Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam số 47/2021/QH12: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này.
Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã” và “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” [11]. Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng của nền kinh tế. Ngân hàng bao gồm nhiều loại tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thƣơng mại chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô, tài sản, thị phần và số lƣợng các ngân hàng. Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán [4].
Những định nghĩa trên cho thấy một số chức năng cơ bản mà các NHTM đảm nhận phân biệt tƣơng đối với các chức năng của các trung gian tài chính khác. Từ đó có thể thấy bản chất của NHTM thể hiện qua các đặc điểm sau: - Ngân hàng thƣơng mại là một tổ chức kinh tế e 10 - Ngân hàng thƣơng mại hoạt động mang tính chất kinh doanh - Ngân hàng thƣơng mại hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng. Chức năng Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam. Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thƣờng xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
NHTM là tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và các dịch vụ thanh toán: Nghiệp vụ huy động vốn; Nghiệp vụ sử dụng vốn. Cụ thể chức năng của NHTM là tiến hành cho vay, đầu tƣ, nghiệp vụ ngân quỹ và các nghiệp vụ khác: Nhận tiền gửi và các loại quỹ; Các hình thức cho vay, bao gồm tín dụng khách hàng, tín dụng cầm cố, quản lý và tài trợ các giao dịch thƣơng mại; Cho thuê tài chính; Các dịch vụ thanh toán và chuyển tiền; Bảo lãnh và ủy thác; Kinh doanh với danh nghĩa bản thân và khách hàng, trên thị trƣờng hối đoái, thị trƣờng mua bán thẳng hoặc các thị trƣờng khác nhƣ các công cụ của thị trƣờng tiền tệ, công cụ phái sinh; Tham gia vào các hoạt động chứng khoán khác bao gồm cả bảo đảm và đặt chỗ nhƣ một đại lý; Môi giới tiền tệ; Quản lý tài sản; Dịch vụ giải quyết và thanh toán các tài sản tài chính; Dịch vụ tƣ vấn tài chính; Cung cấp và chuyển tiến thông tin tài chính, và xử lý các dữ liệu tài chính [14]. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm Tín dụng xét theo nội dung hoạt động của các tổ chức tín dụng có nghĩa khá rộng.
Đó là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn e 11 huy động để cấp tín dụng, trong đó theo Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 thì: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” [11]. Từ các khái niệm trên ta thấy, tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhƣợng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định. Cũng nhƣ quan hệ tín dụng khác, tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung: Có sự chuyển nhƣợng quyền sử dụng vốn từ ngƣời sở hữu sang cho ngƣời sử dụng, sự chuyển nhƣợng này mang tính tạm thời hay có thời hạn, sự chuyển nhƣợng này có kèm theo chi phí. Các nguyên tắc cơ bản của tín dụng NHTM - Ngƣời sử dụng vốn cam kết bảo đảm sử dụng vốn vay hợp pháp, đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
- Ngƣời sử dụng vốn có khả năng hoàn trả nợ gốc và lãi vay đầy đủ, đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. - NHTM thẩm định, kiểm tra trƣớc, trong và sau khi cho vay, đồng thời tổ chức việc xét duyệt khoản vay theo nguyên tắc phân định trách nhiệm giữa các khâu thẩm định và quyết định cho vay [14]. Phân loại tín dụng ngân hàng Theo Nguyễn Văn Tiến (2009), tuỳ theo tiêu chí phân loại ngƣời ta chia tín dụng thành nhiều loại khác nhau để quản lý vì mỗi loại tín dụng có những đặc thù riêng về cách thức chuyển giao vốn, luân chuyển vốn, thu hồi vốn: - Căn cứ vào thời gian cho vay: e 12 + Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dƣới một năm, thƣờng đƣợc sử dụng để cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lƣu động của các doanh nghiệp và cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng cá nhân. + Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm.
Loại tín dụng này đƣợc dùng để cho vay vốn phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ, các dự án vừa phải có thời gian thu hồi vốn nhanh. + Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm. Loại tín dụng này đƣợc sử dụng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn, có thời gian thu hồi vốn lâu. - Căn cứ vào mục đích sử dụng: + Tín dụng phục vụ sản xuất và lƣu thông hàng hoá: là loại tín dụng đƣợc cung cấp cho các nhà doanh nghiệp, chủ thể kinh doanh để tiến hành sản xuất và lƣu thông hàng hoá.
+ Tín dụng tiêu dùng: là hình thức tín dụng sử dụng cho cá nhân để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng. Ngày nay, tín dụng tiêu dùng đã trở thành một trong những xu hƣớng phát triển và trở thành một thị trƣờng tín dụng rộng lớn. Tuy nhiên do tính chủ động của việc sử dụng vốn, nguồn trả nợ từ cá nhân, ngân hàng khó đánh giá hiệu quả nên loại tín dụng này có mức độ rủi ro cao hơn. - Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng: + Tín dụng có đảm bảo: là loại tín dụng mà khi cho vay đòi hỏi ngƣời vay vốn phải có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của ngƣời thứ ba.
+ Tín dụng không đảm bảo (tín chấp): là loại tín dụng không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của ngƣời thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. - Căn cứ vào phƣơng pháp hoàn trả: e 13 + Tín dụng trả góp theo định kỳ: là loại tín dụng mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi theo định kỳ. + Tín dụng trả góp: là loại tín dụng đƣợc thanh toán một lần theo kỳ hạn đã thoả thuận. + Tín dụng hoàn trả theo yêu cầu: là loại hình tín dụng mà ngƣời vay có thể hoàn trả bất cứ lúc nào khi có thu nhập.
+ Bảo lãnh: là cam kết của ngân hàng dƣới hình thức thƣ bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của ngân hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ nhƣ cam kết [15]. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm phân tích báo cáo tài chính khách hàng doanh nghiệp trong ngân hàng thƣơng mại Nhƣ chúng ta đã biết, khi doanh nghiệp muốn đƣợc vay vốn ngân hàng thì doanh nghiệp lập hồ sơ vay vốn trong đó doanh nghiệp luôn cố gắng thể hiện tình hình tài chính lành mạnh và có khả năng tài chính đảm bảo tốt cho khả năng trả nợ của mình. Vì tình hình tài chính lành mạnh là một trong những điều kiện để ngân hàng xem xét cho doanh nghiệp vay vốn.
Bởi vậy để biết đƣợc tình hình tài chính của doanh nghiệp tốt hay xấu thì cần phải tiến hành thẩm định mới đánh giá đƣợc, mà cụ thể là cần tập trung phân tích báo cáo tài chính để thấy rõ. Phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp của ngân hàng thƣơng mại là một tập hợp các phƣơng pháp và các công cụ cho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp vay vốn, đánh giá rủi ro, mức độ và chất lƣợng hiệu quả hoạt e 14 động của doanh nghiệp đó, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp, giúp ngân hàng đƣa ra các quyết định về tín dụng đối với doanh nghiệp đó. Phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp nhằm phục vụ hoạt động cho vay tại các ngân hàng. Đây là một hoạt động không thể thiếu trong quy trình tín dụng của ngân hàng, nó đƣợc coi nhƣ là cơ sở hình thành nên một khoản cho vay tốt.
Ý nghĩa cơ bản của phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp phục vụ hoạt động cho vay của các ngân hàng nhƣ sau: Thứ nhất, phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp giúp ngân hàng đánh giá vị thế của khách hàng trong lĩnh vực họ đang kinh doanh.