CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ QUY TRÌNH THU THUẾ 1. Tổng quan về kiểm soát nội bộ trong lĩnh vực công 1. Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống KSNB trong lĩnh vực công Trong lĩnh vực công, KSNB rất được chú trọng và quan tâm, nó là đối tượng được quan tâm đặc biệt của kiểm toán viên Nhà nước. Một số Quốc gia như Mỹ hoặc Cannada đã có những công bố chính thức về KSNB áp dụng cho các cơ quan hành chính sự nghiệp.
Chuẩn mực về kiểm toán của Tổng Kế toán Nhà nước Hoa Kỳ (United States General Accounting Office -Viết tắt GAO) (1999) có đề cập đến vấn đề KSNB đặc thù trong hành chính sự nghiệp. GAO đưa ra 5 yếu tố về KSNB gồm các quy định về môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông và giám sát. Về kiểm toán Nhà nước, hệ thống chuẩn mực kiểm toán Nhà nước do Tổ chức Quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (International Organization of Superme Audit Institutions - Viết tắt INTOSAI) ban hành. Tổ chức này bao gồm 178 thành viên.
Hệ thống chuẩn mực kiểm toán do INTOSAI ban hành bao gồm quy tắc đạo đức nghề nghiệp và chuẩn mực kiểm toán. Năm 1992, bản hướng dẫn về chuẩn mực KSNB của INTOSAI đã hình thành một tài liệu đề cập đến việc nâng cấp các chuẩn mực KSNB, hỗ trợ cho việc thực hiện và đánh giá KSNB. Năm 2013, bản Hướng dẫn của INTOSAI 1992 đã cập nhật thêm về các chuẩn mực KSNB để phù hợp với tất cả các đối tượng và phù hợp với sự phát triển gần đây trong KSNB. Điều cần lưu ý là tài liệu này đã tích hợp các lý luận chung vềKSNB của Báo cáo COSO năm 2013.
Bên cạnh việc cải thiện định nghĩa KSNB và xây dựng một sự hiểu biết e 8 thông thường về KSNB, tài liệu của INTOSAI trình bày những vấn đề đặc thù về khu vực công. Định nghĩa kiểm soát nội bộ lĩnh vực công Theo Báo cáo INTOSAI (1992) “KSNB là cơ cấu của một tổ chức, bao gồm nhận thức, phương pháp, quy trình và các biện pháp của người lãnh đạo nhằm bảo đảm sự hợp lý để đạt được các mục tiêu của tổ chức”: - Thúc đẩy các hoạt động hữu hiệu, hiệu quả và có kỷ cương cũng như chất lượng của sản phẩm, dịch vụ phù hợp với nhiệm vụ của tổ chức. - Bảo vệ các nguồn lực không bị thất thoát, lạm dụng, lãng phí, tham ô và vi phạm pháp luật. - Khuyến khích tuân thủ pháp luật, quy định của Nhà nước và nội bộ.
- Xây dựng và duy trì các dữ liệu tài chính và hoạt động và lập báo cáo đúng đắn và kịp thời. Tài liệu hướng dẫn của INTOSAI 1992 được cập nhật thêm vào năm 2013 đưa ra những quy tắc và quy định cho các mục tiêu về KSNB như sau: - Thực hiện các hoạt động một cách có kỷ cương, có đạo đức, có tính kinh tế, hiệu quả và thích hợp. - Thực hiện đúng trách nhiệm. - Tuân thủ theo luật pháp hiện hành và các nguyên tắc, quy định.
- Bảo vệ các nguồn lực chống thất thoát, sử dụng sai mục đích và tổn thất. - Thực hiện kiểm soát những hành vi sai phạm trong thực thi công vụ, chống tham nhũng, tiêu cực trong bộ máy, giảm thiểu những sai phạm nghiêm trọng và gây thất thoát tài sản của Nhà nước. Ngân sách của Nhà nước được phân bố rộng rãi, chính vì vậy cần có các kiểm soát nhằm đảm bảo ngân sách được sử dụng đúng mục đích, các tài sản không bị thất thoát hay lãng phí. Vì vậy, việc bảo vệ nguồn lực cần được nhấn mạnh thêm tầm quan trọng trong KSNB đối với khu vực công.
e 9 Trong tài liệu này còn nhấn mạnh đến những thông tin phi tài chính. Bởi vì sự sử dụng rộng rãi của hệ thống thông tin ngày càng tăng trong các tổ chức Nhà nước, kiểm soát công nghệ thông tin ngày càng trở nên quan trọng hơn. Mục tiêu của tài liệu này là thiết lập và duy trì KSNB hữu hiệu trong khu vực công. Vì vậy, các nhà lãnh đạo của Chính phủ rất quan tâm đến tài liệu này.
Các nhà lãnh đạo các tổ chức của Nhà nước xem tài liệu này là một nền tảng để thực hiện và giám sát KSNB trong tổ chức. INTOSAI đưa ra hai nhóm chuẩn mực về KSNB: Chuẩn mực chung và chuẩn mực cụ thể. Chuẩn mực chung bao gồm các quy định về bảo đảm hợp lý, tinh thần tuân thủ, năng lực và phẩm chất, mục tiêu kiểm soát và giám sát. Chuẩn mực cụ thể đi vào các quy định về tổ chức hồ sơ, tài liệu; ghi chép kịp thời và đúng đắn các nghiệp vụ, phân chia trách nhiệm, tiếp cận và báo cáo về nguồn lực và sổ sách.
Sự cần thiết của kiểm soát nội bộ lĩnh vực công Hệ thống KSNB đóng vai trò quan trọng trong một tổ chức cơ quan hành chính sự nghiệp. Nó giúp cho các cơ quan này giảm thiểu những sai sót và rủi ro trong quản lý, giúp cho bộ máy hoạt động hữu hiệu và hiệu quả hơn. Hệ thống KSNB phát hiện được những thiệt hại, sai sót và hành vi vi phạm trong việc sử dụng tài sản của cơ quan. Từ đó cơ quan đề ra được những biện pháp để bảo vệ tài sản hữu hiệu và sử dụng hợp lý hơn.
Hệ thống KSNB giúp nhà Lãnh đạo kiểm soát được cán bộ nhân viên trong vấn đề tuân thủ kỷ cương, nội quy cơ quan, tuân thủ những quy tắc ứng xử, nắm bắt được hành vi đạo đức của cán bộ nhân viên từ đó đưa ra những tiêu chí cho hình thức khen thưởng hay kỷ luật phù hợp. Hệ thống KSNB kiểm soát mức độ hoàn thành công việc của cán bộ nhân viên, tạo điều kiện hình thành ý thức trách nhiệm của mỗi cán bộ nhân viên ngày càng hoàn thiện hơn trong việc thực thi nhiệm vụ của mình. Hệ thống KSNB kiểm soát được sự tuân thủ của cán bộ nhân viên, giúp họ e 10 biết được việc chấp hành nội quy cơ quan, chính sách pháp luật là cần thiết, kiểm soát được những sai phạm và giảm thiểu sai sót trong thực thi công vụ. Hệ thống KSNB là một bộ phận quan trọng, nó giám sát và kiểm soát toàn bộ quy trình hoạt động của bộ máy, nó giúp Ban Lãnh đạo quản lý hiệu quả bộ máy của cơ quan, nếu không có hệ thống KSNB bộ máy sẽ không hoạt động hiệu quả, những gian lận, sai sót, báo cáo không trung thực, thất thoát những nguồn lực, lãng phí, tham nhũng tiêu cực là không tránh khỏi.
Đặc điểm tổ chức hệ thống kiểm soát nội bộ trong lĩnh vực công Dịch vụ công ở các nước trên thế giới rất đa dạng và phong phú. Nếu xem xét đến nguồn kinh phí để duy trì hoạt động thường xuyên thì có một điểm cơ bản giống nhau là các đơn vị đều có sử dụng nguồn vốn NSNN cấp và một phần tự thu, chi cho hoạt động của đơn vị đó. Vì vậy chức năng cơ bản của đơn vị có hoạt động dịch vụ công là vừa thực hiện một số nhiệm vụ chuyên môn, chính trị của Nhà nước giao vừa tự hoạt động trên nguồn lực sẵn có, phù hợp với chức năng nhiệm vụ của mình để phục vụ công ích xã hội. Tuy nhiên, đơn vị dịch vụ công ở mỗi nước cũng có những đặc thù khác nhau tùy thuộc vào thể chế chính trị của từng quốc gia và cơ chế hoạt động tài chính công của từng quốc gia.
Ở Việt Nam, Nhà nước ban hành quy định rất cụ thể từng loại hình đơn vị sự nghiệp, dựa vào khả năng tự chủ về kinh phí của đơn vị để xây dựng các tiêu thức phân loại, đơn vị nào có khả năng tự đảm bảo kinh phí hoạt động nhiều hơn thì được giao quyền tự chủ nhiều hơn. Đa số các đơn vị sự nghiệp công sử dụng NSNN là chính, phần tự chủ tài chính của đơn vị thường nhỏ hơn, điều này là do các đơn vị phải tập trung vào thực hiện nhiệm vụ công ích xã hội của Nhà nước giao. Mặc dù nguồn tài chính ở đơn vị dịch vụ công có cơ cấu thu chi khác nhau, nhưng có điểm chung là các khoản chi tiêu đều phải tuân thủ chế độ chính sách, phù hợp với dự toán và tình hình thực tế của đơn vị, nhất là các hoạt động được ngân sách e 11 Nhà nước cấp. Gần đây, ở Việt Nam đã thực hiện việc khoán chi hành chính, giao quyền tự chủ về kinh phí cho các đơn vị sự nghiệp công, điều này đã khuyến khích các đơn vị tiết kiệm chi phí hành chính, đổi mới cơ chế quản lý sao cho hiệu quả, đẩy mạnh công tác tự kiểm tra tài chính để phòng ngừa các rủi ro, giảm các hành vi gian lận, lãng phí, lành mạnh hoá các quan hệ tài chính.
Những đòi hỏi khách quan trên đã làm tiền đề cho việc thiết lập hệ thống KSNB trong các tổ chức sự nghiệp công. Mục tiêu của KSNB trong khu vực công hướng tới các dịch vụ công và lợi ích cộng đồng, bao gồm: + Mục tiêu hoạt động : Đề cập đến sự hiệu quả và hữu hiệu của các hoạt động trong đó bao gồm mục tiêu về hoạt động và mục tiêu về tài chính đồng thời đảm bảo tài sản không bị mất mát trong quản lý hành chính sự nghiệp của đơn vị. + Mục tiêu về báo cáo : Báo cáo kết quả hoạt động của bộ máy, cung cấp các thông tin tài chính và phi tài chính kịp thời, phù hợp cho các đối tượng sử dụng. + Mục tiêu tuân thủ : Đề cập đến việc tuân thủ pháp luật và các quy định và chính sách của tổ chức, quy định công ước quốc tế, chính sách, pháp luật của quốc gia và các quy định có liên quan.
+ Mục tiêu về quản lý nguồn lực : Mục tiêu này là phần chi tiết hóa mục tiêu về hoạt động của đơn vị. Do đặc thù của khu vực công, nên INTOSAI còn nhấn mạnh thêm tầm quan trọng của việc sử dụng hợp lý nguồn ngân sách, tránh lạm dụng, lãng phí nguồn lực quốc gia. Nội dung cơ bản về kiểm soát nội bộ trong khu vực công INTOSAI đưa ra 2 nhóm chuẩn mực về KSNB: chuẩn mực chung và chuẩn mực cụ thể. Chuẩn mực chung bao gồm các quy định về bảo đảm hợp lý; tinh thần tuân thủ; năng lực và phẩm chất; mục tiêu kiểm soát và giám sát.