phần mở đầu và kết luận, danh mục sơ đồ, bảng biểu,. Luận văn đƣợc kết cấu 3 chƣơng chính nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ quy trình mua sắm trang thiết bị y tế trong các đơn vị y tế Chƣơng 2: Thực trạng kiểm soát nội bộ quy trình mua sắm trang thiết bị y tế tại Công ty Cổ phần Bệnh viện Đa khoa Bình Định. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ quy trình mua sắm trang thiết bị y tế tại Công ty Cổ phần Bệnh viện Đa khoa Bình Định. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ QUY TRÌNH MUA SẮM TRANG THIẾT BỊ Y TẾ TRONG CÁC ĐƠN VỊ Y TẾ 1.1 Những vấn đề chung về kiểm soát nội bộ 1.1 Khái quát về kiểm soát nội bộ Trong bất kỳ doanh nghiệp nào các hoạt động đều theo một chuỗi các quy trình nghiệp vụ đan xen nhau tạo nên một hệ thống hoàn chỉnh nhất nhằm giúp quá trình kiểm soát hoạt động trong doanh nghiệp trở nên thống nhất vì mục đích chung của từng doanh nghiệp.
Hoạt động kiểm soát luôn giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình quản lý và điều hành của nhà lãnh đạo trong doanh nghiệp. Việc kiểm soát hiệu quả, nhà lãnh đạo có thể đánh giá đƣợc nội lực và tìm năng phát triển thật sự của một doanh nhiệp từ đó điều chỉnh các phƣơng hƣớng kinh doanh hợp lý để đem lại hiệu suất cao nhất. Công cụ chủ yếu để thực hiện chức năng kiểm soát của các nhà lãnh đạo dựa vào hệ thống kiểm soát nội bộ (Internal Control System). Tại Mỹ, một trong những khái niệm đầu tiên của hệ thống KSNB đƣợc định nghĩa bởi Hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA), dựa trên cơ sở đánh giá cao tầm quan trọng của mối quan hệ giữa hệ thống KSNB ảnh hƣởng tới công việc của kiểm toán viên CPA khi bày tỏ ý kiến của mình về sự hợp lý của BCTC đƣợc kiểm toán của các công ty khách hàng.
Trong các Chuẩn mực đƣợc hệ thống hóa của của AICPA hệ thống KSNB đƣợc hiểu:“Hệ thống các kế hoạch tổ chức và tất cả các phương pháp phối hợp được thừa nhận dùng trong kinh doanh để bảo vệ tài sản của tổ chức, kiểm tra sự chính xác và độ tin cậy của thông tin kế toán, thúc đẩy hiệu quả hoạt động và khích lệ, bám sát và độ tin cậy của thông tin kế toán, thúc đẩy hiệu quả hoạt động và khích lệ, bám sát chủ trương quản lý đã đề ra.” Theo Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC), kiểm soát nội bộ là các chính sách, tiêu chuẩn và thủ tục đƣợc thiết lập nhằm đạt đƣợc các mục tiêu: bảo vệ tài sản đơn vị, đảm bảo độ tin cậy và trung thực của các thông tin báo cáo, đảm bảo việc thực hiện các chế độ pháp lý và những qui định, bảo đảm hiệu quả và hiệu lực của các hoạt e 8 động. Định nghĩa này đã đề cập phạm vi của hệ thống KSNB rất rộng, nó không chỉ giới hạn trong phạm vi của những hoạt động về kế toán, tài chính mà bao gồm tất cả những lĩnh vực hoạt động trong đơn vị. Hệ thống lý luận về KSNB ở Việt Nam gắn liền với sự ra đời và phát triển của hoạt động kiểm toán độc lập của Việt Nam trong thời gian qua. Cuối những năm 1980, khi Nhà nƣớc từng bƣớc chuyển nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trƣờng, đặc biệt là khi có sự xuất hiện của các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài, hoạt động kiểm toán mới đƣợc chú trọng.
Chính nhu cầu minh bạch thông tin của các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đã tạo nên nhu cầu về loại hình kiểm toán độc lập BCTC. Sự thành lập của Công ty kiểm toán đầu tiên của Việt Nam (VACO) vào ngày 13/5/1991 đánh dấu một bƣớc ngoặt lớn đối với công tác kiểm tra kế toán ở Việt Nam. Sau đó, với sự thành lập của nhiều công ty kiểm toán khác nhƣ các công ty hợp danh, công ty liên doanh, các công ty kiểm toán quốc tế tại Việt Nam đã tạo nhiều cơ hội thuận lợi cho kiểm toán Việt Nam phát triển và hội nhập với nền kinh tế thế giới. Có thể tóm tắt quá trình phát triển của các lý luận cho hoạt động kiểm toán và KSNB căn cứ trên: Nghị định số 07/CP ngày 29 tháng 1 năm 1994 của Chính phủ ban hành quy chế về kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân.
Nghị định số 70/CP ngày 11 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ về việc thành lập cơ quan Kiểm toán Nhà nƣớc. Tháng 9/1999, Bộ Tài chính ban hành 4 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA) đầu tiên. Lần lƣợt các năm 2000, 2001, 2003, 2005, 2012, 2015 Bộ Tài chính ban hành thêm các chuẩn mực. Năm 2001, theo Quyết định số 143/2001/QĐ-BTC, trong chuẩn mực kiểm toán VSA 400 “Đánh giá rủi ro và KSNB”, Bộ Tài chính đã đƣa ra định nghĩa về e 9 Hệ thống KSNB nhƣ sau: “Hệ thống KSNB là các quy định và các thủ tục kiểm soát đơn vị của kiểm toán xây dựng và áp dụng nhằm đảm bảo cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các quy định, để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót, để lập báo cáo tài chính trung thực và hợp lý, nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị.
Hệ thống KSNB bao gồm môi trƣờng kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm toán” [2, 36]. Năm 2012, Bộ Tài chính ban hành Thông tƣ số 214/2012/TT-BTC trong đó có VSA 315 định nghĩa cụm từ KSNB nhƣ sau: “KSNB là quy trình do ban quản trị, ban giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế thực hiện và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt đƣợc mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan. Thuật ngữ “kiểm soát” đƣợc hiểu là bất cứ khía cạnh nào của một hoặc nhiều thành phần của kiểm soát nội bộ;” [3, 199]. Nhìn chung các định nghĩa đƣợc đƣa ra bởi các Hiệp hội, tổ chức khác nhau nhƣng chúng đều đề cập tới những quan điểm chung: Một là, hệ thống KSNB là một quá trình: nhƣ ta thấy các hoạt động của một đơn vị, tổ chức đều thực hiện dựa trên các quy trình; thông qua quá trình đƣa phƣơng án, lập kế hoạch, giải quyết vấn đề, thực hiện và giám sát.
Nó không đơn giản là một sự kiện, một tình huống mà nó là cả một chuỗi các hoạt động luôn hiện diện trong một đơn vị, tổ chức. Một hệ thống KSNB hữu hiệu và hiệu quả khi nó đƣợc xây dựng thành quy trình thống nhất của đơn vị mang lại hiệu quả tối ƣu nhất công tác quản lý chứ không đơn giản là một chức năng bổ sung cho hoạt động của đơn vị, tổ chức. Hai là: hệ thống KSNB đƣợc xây dựng và sử dụng bởi con ngƣời, theo nhu cầu của con ngƣời ở đây thƣờng là nhà quản lý, nên nó luôn phải hƣớng tới mục đích cuối cùng của đơn vị đã đề ra. Nó phải đƣợc vận hành hiệu quả và mang lại năng suất là cao nhất.
Đảm bảo khả năng thực hiện của các mục tiêu: mỗi đơn vị e 10 thƣờng đặt ra các mục tiêu kiểm soát cụ thể, ở đây ta nên xem xét nó thuộc mục tiêu chung cho toàn đơn vị hay mục tiêu riêng cho từng hoạt động: Nhóm mục tiêu kết quả hoạt động: Hiệu quả và hiệu suất hoạt động: Sử dụng có hiệu quả các tài sản và các nguồn lực khác Hạn chế rủi ro Đảm bảo sự phối hợp, làm việc của toàn bộ nhân viên để đạt đƣợc mục tiêu của DN với hiệu năng và sự nhất quán. Tránh đƣợc các chi phí không đáng có/ việc đặt các lợi ích khác (Của nhân viên, của khách hàng…) lên trên lợi ích của doanh nghiệp. Nhóm mục tiêu thông tin: Độ tin cậy của quy trình và trình bày BCTC Các báo cáo cần thiết đƣợc lập đúng hạn và đáng tin cậy để ra quyết định trong nội bộ doanh nghiệp. Thông tin gửi đến Ban GĐ, HĐQT, các cổ đông và các cơ quan quản lý phải có chất lƣợng và tính nhất quán.
BCTC và các báo cáo quản lý khác đƣợc trình bày một cách hợp lý và dựa trên các chính sách kế toán đã đƣợc xác định rõ ràng. Nhóm mục tiêu tuân thủ: Sự tuân thủ pháp luật và quy định. Đảm bảo mọi hoạt động của doanh nghiệp đều tuân thủ: Các luật và quy định Nhà nƣớc. Các yêu cầu quản lý.
Các chính sách và quy trình nhiệm vụ của doanh nghiệp.2 Các bộ phận cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ Kiểm soát nội bộ là một công cụ hiệu quả trong quản trị doanh nghiệp. KSNB và hiệu quả hoạt động đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới thực hiện. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về mối liên hệ giữa KSNB và hiệu quả hoạt động ở Việt Nam thì vẫn còn nhiều hạn chế. Để ứng phó với sức ép cạnh tranh, DN Việt phải luôn chủ động trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, một mặt đảm bảo hoạt động tuân thủ pháp luật, mặt khác sử dụng hiệu quả nguồn lực hiện có, nhằm đạt e 11 đƣợc các mục tiêu hoạt động của DN.
Vấn đề cốt lõi là DN phải có một hệ thống KSNB hoạt động hiệu quả. COSO (The Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commission - Ủy ban Chống gian lận khi lập Báo cáo tài chính thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ), đƣợc thành lập năm 1985. COSO là một chuẩn mực của thế giới trong lĩnh vực Kiểm soát nội bộ, đƣợc ban hành lần đầu vào năm 1992 tại Hoa Kỳ; COSO đóng vai trò nhƣ một bƣớc khởi đầu làm nền tảng cho các doanh nghiệp khi xây dựng hệ thống Kiểm soát nội bộ. Từ khi ban hành vào năm 1992, sau một thời gian hơn 20 năm, nội dung của COSO không chỉ phục vụ cho công tác tài chính, kế toán mà còn mở rộng đối với phạm vi toàn doanh nghiệp.
Những thay đổi cơ bản của văn bản mới ban hành tập trung vào 7 điểm chính nhƣ sau: Mong đợi theo hƣớng tiếp cận vào việc quản trị Doanh nghiệp ở tầm vĩ mô. Hƣớng đến sự toàn cầu hóa của thị trƣờng và hoạt động kinh doanh mở rộng. Sự thay đổi trong mô hình kinh doanh phù hợp với biến động của thế giới. Đáp ứng nhu cầu, mức độ phức tạp, quy định và các chuẩn mực.