phần mở đầu và phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: 5 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp. Chƣơng 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Mai Hƣơng Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Mai Hƣơng 6 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 1. Khái quát về kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp 1.
Khái niệm về chi phí và giá thành xây lắp Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải đảm bảo có đƣợc 3 yếu tố cơ bản: tƣ liệu lao động, đối tƣợng lao động và sức lao động. Các yếu tố lao động này sẽ tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp dẫn đến sự hình thành các hao phí tƣơng ứng: hao phí tƣ liệu lao động, hao phí đối tƣợng lao động, hao phí sức lao động để tạo ra đƣợc sản phẩm, lao vụ, dịch vụ. Toàn bộ các hao phí này đƣợc biểu hiện bằng thƣớc đo tiền tệ, gọi là chi phí của doanh nghiệp. Theo Ngô Thế Chi (2010) “Chi phí bao gồm các chi phí sản xuất, kinh doanh phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thƣờng của doanh nghiệp và các chi phí khác” [4].
Một khoản chi ra đƣợc gọi là chi phí khi khoản chi đó làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dƣới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu. Chi phí sản xuất, kinh doanh phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thƣờng của doanh nghiệp bao gồm các khoản nhƣ: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung, giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí lãi tiền vay, và những chi phí liên quan đến hoạt động cho các bên khác sử dụng tài sản sinh ra lợi tức, bản quyền,. Những chi phí này phát sinh dƣới dạng tiền và các khoản tƣơng đƣơng tiền, hàng tồn kho, khấu hao tài sản cố định. [11] 7 Chi phí khác bao gồm các chi phí ngoài các chi phí sản xuất, kinh doanh, nhƣ: chi phí về thanh lý, nhƣợng bán tài sản cố định, các khoản tiền bị khách hang phạt do vi phạm hợp đồng, chênh lệch lỗ do đánh giá lại vật tƣ, hàng hóa, TSCĐ góp vốn liên doanh, đầu tƣ vào công ty liên kết, đầu tƣ dài hạn khác.
Khái niệm chi phí sản xuất xây lắp Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp xây lắp nói riêng đều phải sử dụng nguồn nhân lực và vật lực để thực hiện xây dựng, tạo ra các sản phẩm xây lắp là các công trình, hạng mục công trình. Quá trình tạo ra sản phẩm đó đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải bỏ ra các khoản hao phí về lao động sống, lao động vật hóa cho quá trình hoạt động của mình. Hao phí về lao động sống là chi phí tiền lƣơng, thƣởng, phụ cấp, các khoản trích theo lƣơng của ngƣời lao động. Hao phí về lao động vật hóa là chi phí về sử dụng tƣ liệu lao động, đối tƣợng lao động dƣới các hình thái vật chất, phi vật chất, tài chính và phi tài chính.
Nhƣ vậy, chi phí sản xuất xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các hao phí cần thiết khác mà doanh nghiệp đã chi ra để tiến hành các hoạt động xây dựng, lắp đặt các công trình, hạng mục công trình trong một thời gian nhất định [12]. Đây chính là khái niệm về chi phí sản xuất xây lắp theo quan điểm của kế toán tài chính. Vậy theo quan điểm của kế toán quản trị, khái niệm về chi phí sản xuất xây lắp đƣợc thể hiện: Trên góc độ kế toán quản trị, chi phí sản xuất xây lắp chính là toàn bộ các khoản chi tiêu thực tế phát sinh gắn liền với hoạt động xây dựng, lắp đặt các công trình, hạng mục công trình trong một thời kỳ nhất định. Khái niệm giá thành sản phẩm xây lắp Để xây dựng một công trình, hạng mục công trình thì doanh nghiệp xây dựng phải đầu tƣ vào quá trình sản xuất, thi công một lƣợng lớn chi phí nhất 8 định.
Những chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra trong quá trình thi công công trình sẽ cấu thành nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành. Giá thành sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hóa phát sinh trong quá trình sản xuất có liên quan tới khối lƣợng xây lắp đã hoàn thành.[12] Giá thành sản phẩm xây lắp bao gồm toàn bộ chi phí sản xuất: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung. tính cho từng công trình, hạng mục công trình, khối lƣợng xây lắp hoàn thành theo quy ƣớc là đã hoàn thành, nghiệm thu, bàn giao và đƣợc chấp nhận thanh toán. Trong doanh nghiệp xây dựng cơ bản, giá thành sản phẩm xây lắp mang tính chất cá biệt.
Mỗi công trình, hạng mục công trình hay khối lƣợng công việc hoàn thành đến giai đoạn hoàn thành quy ƣớc đều có một giá thành riêng. Khái niệm về kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành công trình xây lắp Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là một bộ phận quan trọng của kế toán quản trị. Công việc của kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp các thông tin về chi phí sản xuất doanh nghiệp phải chi ra để có đƣợc sản phẩm hoàn thành. Đối với doanh nghiệp xây lắp, kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm chính là việc thu thập, xử lý, cung cấp các thông tin về định mức chi phí, dự toán chi phí xây dựng công trình, hạng mục công trình và phân tích sự biến động của chi phí sản xuất thực tế so với chi phí dự toán để từ đó giúp cho nhà quản trị đƣa ra đƣợc các quyết định kinh tế hợp lý và là cơ sở để các nhà quản trị kiểm soát chi phí có hiệu quả hơn.
Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là một hệ thống thông tin quản lý doanh nghiệp và có mối quan hệ mật thiết với kế toán tài 9 chính. Bản chất của kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là cung cấp các thông tin về quá khứ và những thông tin có tính dự báo về tƣơng lai thông qua việc lập kế hoạch và dự toán trên cơ sở định mức chi phí. Kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp là một công cụ hữu hiệu giúp các nhà quản trị xây dựng kế hoạch, kiểm soát chi phí, đánh giá các hoạt động và ra các quyết định hợp lý. Do đặc thù của ngành xây dựng là các công trình thi công không cố định, xa trụ sở chính, quá trình sản xuất diễn ra trong thời gian dài nên kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có vai trò rất quan trọng trong việc ra quyết định quản lý.
Dù doanh nghiệp xây lắp có tổ chức bộ máy kế toán quản trị riêng biệt hay cùng với bộ máy kế toán tài chính thì kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp luôn tồn tại thể hiện qua các bản định mức chi phí và dự toán chi phí. Nhƣ vậy, vai trò chủ yếu của kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp là xây dựng định mức chi phí, lập dự toán chi phí, tổ chức thực hiện dự án, kiểm tra và đánh giá việc thực hiện dự toán và giúp nhà quản trị đƣa ra quyết định kinh doanh đem lại hiệu quả cao nhất. Nhiệm vụ của kế toán quản trị nói chung, kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp nói riêng gồm: - Thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo phạm vi, nội dung kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp xác định theo từng thời kỳ. - Kiểm tra, giám sát các định mức chi phí và dự toán chi phí.
- Cung cấp thông tin theo yêu cầu quản trị nội bộ doanh nghiệp bằng các báo cáo kế toán quản trị chi phí theo nội dung và thời gian. - Tổ chức phân tích thông tin phục vụ cho yêu cầu lập kế hoạch và ra quyết định của các nhà quản trị doanh nghiệp. Vai trò của kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành công trình xây lắp KTQT chi phí có vai trò quan trọng trong quản trị, điều hành doanh nghiệp, thể hiện qua các điểm cơ bản sau: - KTQT chi phí không những là nguồn chủ yếu để cung cấp thông tin cần thiết cho các nhà quản lý ra các quyết định kinh doanh ở tất cả các khâu lập kế hoạch, dự toán, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá mà còn là công cụ giúp nhà quản lý kiểm tra, giám sát điều hành các hoạt động kinh tế tài chính và SXKD của doanh nghiệp. - KTQT chi phí sẽ tƣ vấn cho nhà quản lý trong quá trình xử lý, phân tích thông tin, lựa chọn phƣơng án, ra quyết định kinh doanh phù hợp nhất.
Ngoài ra, nó còn thu thập, phân tích thông tin phục vụ cho việc lập kế hoạch, dự đoán sản xuất và tiên liệu kết quả SXKD,… Thông tin của KTQT chi phí không chỉ là thông tin về quá khứ, thông tin hiện tại, mà còn bao gồm các thông tin ƣớc tính cho tƣơng lai (kế hoạch, dự toán,…). Thông tin KTQT không chỉ là các thông tin theo thƣớc đo giá trị mà còn bao gồm nhiều loại thông tin theo thƣớc đo hiện vật và thời gian lao động.