CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE KE TOÁN DOANH THU VÀ XÁC ĐỊNH KET QUA HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP KINH DOANH DỊCH VU 1. Tổng quan về doanh thu và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp dịch vụ 1. Đặc điểm cơ bản của hoạt động kinh doanh dịch vụ Kinh doanh dịch vụ là hoạt động cung ứng lao vụ, dịch vụ phục vụ nhu cầu sinh hoạt và đời sống cũng như nhu cầu sản xuất kinh doanh của toàn xã hội. Hoạt động kinh doanh dịch vụ rất đa dạng, phong phú.
Căn cứ vào tính chất của hoạt động dịch vụ, người ta chia hoạt động dịch vụ ra làm hai loại: - Dịch vụ có tính chất sản xuất như: dịch vụ vận tải, điện lực, bưu điện. - Dịch vụ không có tính chất sản xuất như: dịch vụ hướng dẫn du lịch, đào tạ0:.¿ Các sản phẩm của hoạt động kinh doanh dịch vụ chủ yếu không mang hình thái vật chất, quá trình sản xuắt, tiêu thụ và phục vụ thường gắn liền với nhau không thể tách rời. Đặc điểm này dẫn tới khó có thể phân biệt một cách rõ ràng chỉ phí trong từng khâu sản xuất và tiêu thụ. Vì vậy, từng hoạt động dịch vụ đặc thù thì có phương pháp xác định nội dung chi phí phù hợp khác nhau để tạo ra giá thành sản phẩm.
Dịch vụ có tính không đồng nhất: Sản phẩm dịch vụ không tiêu chuẩn hóa được, không tạo ra được những dịch vụ như nhau trong những thời gian khác nhau. Mặc khác, khách hàng là người tiêu dùng dịch vụ cho nên việc quyết định chất lượng dịch vụ dựa vào cảm nhận của họ và với mỗi người khác nhau thì việc đánh giá cùng một dịch vụ sẽ là khác nhau. Một đặc trưng cơ bản của hoạt động dịch vụ là tính không tách rời được. Trong đa số các trường hợp, sản phẩm dịch vụ được sản xuất và tiêu thụ đồng thời (tức là sản phẩm dịch vụ hoàn thành không nhập kho thành phẩm, hàng hóa mà được tính là tiêu thụ ngay).
Do đó, các hoạt động dịch vụ thường không có chi phí sản phẩm dé dang và giá thành sản phẩm dịch vụ được thể hiện bằng hao phí lao động sông cân thiét và lao động vật hóa tao ra sản phâm. Phạm Thị Thảo Lớp KTDNH - K16 Khóa luận tốt nghiệp 4 GVHD: Bùi Thị Thanh Tình Đặc điểm của hoạt động kinh doanh dịch vụ đào tao Giáo dục đào tạo được xác định là một dịch vụ, không phải là một hàng hóa. Dịch vụ vì sản phẩm của đào tạo là kiến thức và kỹ năng, mà kiến thức và kỹ năng thì không thể chạm vào hay định lượng được. Trong việc phân loại hàng hóa và dịch vụ, giáo dục được xác định như là một “dịch vụ tư” vì dịch vụ này bao hàm hai đặc điểm, có tính loại trừ và có tính cạnh tranh trong sử dụng.
Có tính loại trừ trong sử dụng vì người học, sinh viên không thể tham gia hưởng thụ dịch vụ này mà không có điều kiện, họ phải thi đầu vào, phải đóng học phí, vv. Nếu sinh viên không thỏa mãn những điều kiện đó sẽ bị lọai trừ ra khỏi việc hưởng thụ dịch vụ giáo dục. Dịch vụ đào tạo có tính cạnh tranh trong sử dụng vì việc học của một học viên này sẽ ảnh hưởng đến việc học của người khác. Vì số lượng sinh viên trong một lớp học là hạn chế và số lượng lớp học trong một trường cũng bị hạn chế, nên sinh viên này được học thì một người khác không được học, hay là nếu thêm một sinh viên vào một lớp học quá đông sẽ ảnh hưởng đến việc học của các sinh viên khác.
Thị trường giáo dục tồn tại một số thất bại như: Thông tin không hoàn hảo — Sự bắt cân xứng thông tin: Cơ sở đào tạo (người cung ứng dịch vụ) biết được chất lượng dịch vụ của mình nhiều hơn người đi học (người mua và sử dụng dịch vụ). Người mua dịch vụ chỉ được biết chất lượng đào tạo sau khi trải qua khóa học, nhưng sau khi học xong không thể đổi hoặc trả lại nếu phát hiện chất lượng đào tạo kém. Chất lượng dịch vụ không đồng nhất: Không giống như đa số hàng hóa và dịch vụ khác, chất lượng của trường học, cơ sở đào tạo và thầy giáo trong mỗi đơn vị là không đồng nhất. Nhiều đơn vị đào tạo chung một ngành đào tạo nhưng chất lượng giữa các đơn vị thì rất khác nhau.
Trong cùng một cơ sở đào tạo, chất lượng giữa những giáo viên cũng rất khác nhau. Do đó, việc lựa chọn của người học gặp nhiều khó khăn. Người mua trả tiền trước và không đảm bảo về chất lượng: Người học muốn tham gia học phải đóng tiền trước khi học và thi, Việc thi đậu hay trượt, có việc làm Phạm Thị Thảo Lớp KTDN H - K16 Khóa luận tốt nghiệp 5 GVHD: Bùi Thị Thanh Tình hay không có việc làm của người học sau này, cơ sở đào tạo không đảm bảo. Do đó, việc kinh doanh đào tạo có rủi ro thấp, nhưng người đi học thì rủi ro cao hơn.
Quá trình dạy và học diễn ra đồng thời nên số lượng lao động sống và lao động trực tiếp cần nhiều, ngoài ra, các trường học, cơ sở đào tạo thường có nhiều cơ sở với nhiều bộ phận như: lễ tân, tư vấn, trợ giảng, giáo viên, bộ phận kinh doanh, marketing. mà không thẻ thay thế bằng máy móc, thiết bị. Đồng thời, dịch vụ đào tạo là vô hình không thể nắm bắt, lượng hóa, nhìn thấy được nên đòi hỏi nhiều lao động sống có sự giao tiếp khéo léo, nhẫn nại, tỉnh tế, tỉ mi. Do dịch vụ đào tạo là vô hình nên ta không thể đo lường trước được đầu ra của các loại hình dịch vụ này.
Tùy thuộc vào từng học viên sẽ có đánh giá chất lượng đào tạo của trung tâm là tốt hay không, có người hài lòng với giáo trình học, có người lại nói cơ sở vật chất của trung tâm không hiện đại, có người lại thấy giá mỗi khóa học hơi cao, không phù hợp. Tuy vậy, vẫn có thể dự báo được đầu ra dựa vào trình độ các giáo viên được tuyển chọn, số năm tồn tại, dựa vào cách quản lí, cơ sở vật chất hiện đại. Các phương thức cung cấp dịch vụ và phương thức thanh toán Dịch vụ là ngành kinh doanh đa dạng, có nhiều hình thức cung ứng dịch vụ khác nhau. Có hai hình thức cơ bản trong kinh doanh dịch vụ là cung cấp trực tiếp và cung cấp gián tiếp.
Kênh trực tiếp từ nhà cung cấp dịch vụ đến người tiêu dùng: Do quá tình sản xuất và tiêu thụ của dịch vụ không tách rời, cho nên đối với nhiều loại dịch vụ cần có sự tiếp xúc trực tiếp giữa người cung cấp dịch vụ và khách hàng. Loại kênh trực tiếp này thường dùng đối với dịch vụ chuyên nghiệp như kế toán, dịch vụ thâm mỹ, y tế, đào tạo. Kênh gián tiếp qua một đại lý được sử dụng khi không cần tiếp xúc trực tiếp giữa người bán và khách hàng. Loại kênh này có thể sử dụng để mở rộng phạm vi tiếp cận của dịch vụ.
Các công ty du lịch, hàng không, bưu chính, viễn thông có thể sử dụng đạo lý trong kênh phân phối. Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp dịch vụ hiện nay thường áp dụng ba hình thức thanh toán sau: Phạm Thị Thảo - K16 Lớp KTDNH Khóa luận tốt nghiệp 6 GVHD: Bùi Thị Thanh Tình e Thanh toán ngay: Là phương thức thanh toán mà sau khi doanh nghiệp hoàn thành việc cung cấp dịch vụ cho khách hàng, khách hàng thanh toán tiền ngay cho doanh nghiệp, có thể bằng tiền mặt hoặc các hình thức khác như chuyển khoản, ủy nhiệm chị,. e Thanh toán trả chậm: Là hình thức thanh toán mà khách hàng thanh toán cho doanh nghiệp sau một thời gian đã được thỏa thuận, do đó hình thành một khoản phải thu với doanh nghiệp và một nghĩa vụ nợ phải trả đối với khách hàng. Hình thức thanh toán này thường được áp dụng với khách hàng truyền thống, quen thuộc, có uy tín lâu năm đối với doanh nghiệp.
Nếu khách hàng thanh toán trước thời hạn thanh toán trong hợp đồng thì có thể được hưởng một khoản chiết khấu thanh toán, nếu khách hàng thanh toán sau quy định thì có thể phải trả một khoản lãi trên số tiền quá hạn. e Thanh toán trước: Là hình thức thanh toán mà doanh nghiệp có thể yêu cầu khách hàng thanh toán trước một khoản trước khi cung cấp dịch vụ. Việc quản lý thanh toán đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, vì khi quản lý tốt về thanh toán các doanh nghiệp sẽ tránh được các tổn thất về tiền, chiếm dụng vốn, tạo điều kiện quay vòng vốn kinh doanh, tăng thu nhập cho doanh nghiệp. Vai trò, nhiệm vụ của kế toán doanh thu và xác định kết quả kinh doanh 1.
Khai niệm Doanh thu là tổng gia giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm gia tăng vốn chủ sở hữu. Doanh thu thuần được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ đi các khoản chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, giám giá hàng bán hoặc giá trị hàng bán bị trả lại. Tùy theo từng loại hình sản xuất kinh doanh, doanh thu bao gồm: + Doanh thu bán hàng + Doanh thu cung cấp dịch vụ Phạm Thị Thảo Lớp KTDNH- K16 Khóa luận tốt nghiệp 7 GVHD: Bùi Thị Thanh Tình + Doanh thu từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia. Ngoài ra còn có các khoản thu nhập khác Doanh thu hoạt động kinh doanh dịch vụ đào tạo thuộc doanh thu cung cấp dịch vụ, là toàn bộ số tiền đã thu được hoặc sẽ thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bán sản phẩm hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho khách hàng bao gồm cả những khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có) Kết quả kinh doanh là biểu hiện số tiền lãi hay lỗ từ hoạt động SXKD của hoạt động trong một thời kỳ nhất định.
Khi một quá trình kinh doanh hoàn thành, doanh nghiệp xác định kết quả kinh doanh trên cơ sở so sánh tổng doanh thu thu được và tông chi phí phát sinh trong quá trình kinh doanh. Kết quả kinh doanh có thé lãi hoặc lỗ, nếu lỗ sẽ được xử lý bù đắp theo chế độ và quy định phù hợp với cơ chế tài chính quy định cho từng loại doanh nghiệp cụ thể.