phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, nội dung luận văn bao gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận kế toán CCTC Chƣơng 2: Thực trạng kế toán CCTC trong các DN Việt Nam Chƣơng 3: Một số giải pháp hoàn thiện kế toán các CCTC trong các DN Việt Nam 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Tại Việt Nam, CCTC còn khá xa lạ và rất nhiều giao dịch kinh tế đã phát sinh trên thực tế liên quan đến CCTC, đặc biệt là CCTC phái sinh nhưng chưa có hướng dẫn đầy đủ của Nhà nước, bao gồm cả cơ chế tài chính, kế toán làm cơ sở pháp lý cho DN thực hiện. Trong thời gian qua đã có một số tác giả nghiên cứu về CCTC nói chung và về kế toán CCTC nói riêng. Về CCTC, chủ yếu các công trình nghiên cứu về sản phẩm phái sinh như: Tác giả Nguyễn Thị Trang (năm 2007) đã nghiên cứu về “Giải pháp phát triển sản phẩm ngoại hối phái sinh tại Ngân hàng Công thương Việt Nam”, tác giả Tôn Tích Quý (năm 2011) đã nghiên cứu về “Định giá các công cụ phái sinh trên thị trường chứng khoán và gợi ý áp dụng cho Việt Nam”, tác Luan van 5 giả Phạm Nguyễn Hoàng (năm 2011) đã nghiên cứu về “Điều kiện hình thành và phát triển thị trường tương lai tại Việt Nam”.
Hầu hết các công trình nghiên cứu của những tác giả đều trình bày chủ yếu các nội dung về CCTC phái sinh dưới góc độ tài chính. Dưới góc độ kế toán, rất ít công trình nghiên cứu việc hoàn thiện chế độ kế toán CCTC, gần đây chỉ có luận án tiến sỹ của tác giả Nguyễn Phi Sơn (năm 2013) đã nghiên cứu về “Kế toán các CCTC phái sinh nhằm phòng ngừa rủi ro trong các DN xuất nhập khẩu Đà Nẵng”. Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã có những đóng góp thiết thực cả về mặt lý luận và thực tiễn. Cụ thể: - Tác giả đã phân tích cụ thể và hệ thống hóa những lý luận cơ bản các loại sản phẩm phái sinh nhằm phòng ngừa rủi ro.
Tìm hiểu quy định kế toán các CCTC này theo Chuẩn mực quốc tế và một số nước phát triển. - Tác giả đã thực hiện việc khảo sát đối với các DN về sản phẩm phái sinh nhằm phòng ngừa rủi ro. Qua đó, đã phân tích và đánh giá được thực trạng nhận thức và mức độ sử dụng các CCTC phái sinh hiện hành. - Qua quá trình hệ thống lý luận và khảo sát thực tiễn về nhận thức và phòng ngừa rủi ro tại các DN, tác giả đã hoàn thiện các giải pháp kế toán CCTC phái sinh nhằm phòng ngừa rủi ro.
Nội dung hoàn thiện trong đề tài được tác giả thực hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau như: Ban hành khung pháp lý cho CCTC phái sinh, xây dựng và ban hành CMKT về CCTC phái sinh, ban hành hướng dẫn hạch toán CCTC phái sinh. Đây là những giải pháp tương đối thiết thực và chặt chẽ, đúng mục tiêu nghiên cứu. Tuy nhiên, do đề tài bàn về CCTC phái sinh nhằm phòng ngừa rủi ro, vì vậy đề tài chỉ tập trung CCTC phái sinh nhằm phòng ngừa rủi ro mà không đề cập đến các loại CCTC khác như CP, TP, CCTC phức hợp,… Đây cũng đang là những vấn đề nóng, mà hệ thống kế toán Việt Nam chưa đáp ứng được. Trong khi đó, các CCTC này ngày càng phổ biến, BCTC các DN Việt Luan van 6 Nam ngày càng được nhiều nhà đầu tư quốc tế quan tâm, đòi hỏi việc hạch toán và trình bày các CCTC này trên BCTC phải theo thông lệ của quốc tế.
Trên thế giới, các nghiên cứu về CCTC cũng được tất cả các nước quan tâm. Các CMKT quốc tế về CCTC được các Ủy ban nghiên cứu CMKT và chuẩn mực BCTC quốc tế nghiên cứu, ban hành và bổ sung, sửa đổi qua các năm. Hiện nay các quy định về ghi nhận và xác định giá trị CCTC được thực hiện theo IAS số 39; Trình bày CCTC được thực hiện theo IAS số 32; Thuyết minh thông tin về CCTC thực hiện theo IFRS số 7; Các qui định về giá trị hợp lý của CCTC được thực hiện theo IFRS số 13. Trên cơ sở CMKT quốc tế và chuẩn mực BCTC quốc tế về CCTC, nhiều quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản đã nghiên cứu, ban hành các CMKT về CCTC phù hợp với điều kiện cụ thể của từng quốc gia.
Đồng thời có nhiều quốc gia công bố thừa nhận toàn bộ các IAS và IFRS để áp dụng cho quốc gia mình, mà điển hình là Liên minh Châu Âu (EU) quy định tất cả các nước là thành viên của EU bắt buộc phải áp dụng chuẩn mực BCTC quốc tế (IFRS). Theo xu thế thời đại, khi thế giới chúng ta đang ngày càng thu hẹp lại, các giao dịch xuyên quốc gia đang ngày càng phát triển một cách mạnh mẽ hơn, tất cả các quốc gia đang tìm cách hoà hợp các CMKT trong nước với CMKT quốc tế, đặc biệt là các CMKT về CCTC. Chính vì vậy, các vấn đề mà luận văn tập trung nghiên cứu là hoàn thiện kế toán CCTC trong hoạt động kinh doanh của các DN. Các giải pháp và nội dung được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển của CCTC tại Việt Nam, về quá trình phát triển của hệ thống kế toán Việt Nam và sự thích ứng của kế toán với sự phát triển của thị trường tài chính trong nước.
Luan van 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN KẾ TOÁN CÔNG CỤ TÀI CHÍNH 1. TỔNG QUAN VỀ CÔNG CỤ TÀI CHÍNH 1. Khái niệm CCTC là bất kỳ hợp đồng nào mang lại một tài sản tài chính cho tổ chức này và một khoản nợ tài chính hoặc công cụ vốn cổ phần cho một tổ chức khác. Phân loại Các CCTC được giao dịch trên thị trường tài chính, bao gồm các CCTC được giao dịch trên thị trường vốn, thị trường tiền tệ và thị trường tài chính phái sinh.
CCTC trên thị trường tiền tệ: Mỗi năm trên thị trường tiền tệ đều có những loại CCTC mới xuất hiện, và một số thì mất đi. Các CCTC giao dịch trên thị trường tiền tệ đặc biệt đa dạng trong nền kinh tế phát triển. Những công cụ trên thị trường tiền tệ là các loại công cụ thay thế tiền mặt ngắn hạn. Thời gian đáo hạn của chúng luôn ngắn (ít hơn hay bằng 1 năm), ít hoặc không có xảy ra tình trạng rủi ro không được thanh toán, và có tính thanh khoản cao.
Sau đây là một số CCTC hiện hành đang giao dịch trên thị trường tiền tệ: - Tín phiếu: Gồm tín phiếu kho bạc và tín phiếu công ty, chúng có thời hạn dưới 1 năm và được bán với giá chiết khấu so với giá trị danh nghĩa. - TP đô thị: Là loại chứng khoán nợ do chính quyền địa phương phát hành. Nó có thời hạn từ một tháng đến hơn một năm. - Chứng chỉ tiền gửi: Là những khoản tiền gửi lớn tại những NHTM với một lãi suất nhất định.
Cũng có nhiều loại chứng chỉ tiền gửi khác nhau. Luan van 8 - Thương phiếu: Do những công ty lớn phát hành nhằm đảm bảo trả những khoản vay ngắn hạn từ ngân hàng. Thương phiếu là loại công cụ không được đảm bảo và luôn bán với giá chiết khấu. Hầu hết chúng có thời hạn là 30 mặc dù chúng có thể lên đến 270 ngày.
- Hợp đồng mua lại: Là những giao kèo giữa hai bên mua bán chứng khoán tại những thời điểm nhất định nào đó. Chúng luôn được những người buôn bán sử dụng. Nếu một người có một số lớn TP kho bạc tồn kho (giá trị có thể vượt qua số vốn của công ty), thì số này cần được giải quyết. Người đó có thể đến ngân hàng vay hoặc ký giao kèo làm hợp đồng mua lại với một đối tác có sẵn tiền khác (có thể là chính phủ).
Người đó sẽ bán đi số TP tồn này cho đối tác này theo mức giá nhất định vào một ngày nào đó được định sẵn. - Các chấp nhận ngân hàng: Được phát sinh từ quá trình mậu dịch quốc tế. Đây là một hối phiếu được ngân hàng bảo lãnh thanh toán vào một thời điểm nhất định trong tương lai. Chấp nhận ngân hàng thực chất là một thương phiếu trong đó có quy định ngày và số lượng tiền cần thanh toán.
Những người đi vay thường sử dụng loại chấp nhận ngân hàng này bởi vì quy mô tài chính của họ quá hạn hẹp hoặc quá mạo hiểm khi tự mình phát hành thương phiếu. CCTC trên thị trường vốn: Các CCTC giao dịch trên thị trường vốn là các CCTC dài hạn vì có thời hạn hơn 1 năm tài chính. CCTC chủ yếu trong thị trường vốn bao gồm TP, CP. Trái phiếu TP là giấy chứng nhận nợ dài hạn do chính phủ hoặc DN phát hành cam kết với người mua TP rằng sẽ chi trả lợi tức và hoàn lại vốn gốc cho người nắm giữ TP.
Trên TP có ghi rõ mệnh giá, lãi suất và thời gian đáo hạn của TP. TP bao gồm các loại sau: Luan van 9 - TP chính phủ: Là loại TP do chính quyền trung ương hay địa phương phát hành nhằm mục đích bù các khoản chi đầu tư của ngân sách nhà nước, quản lý lạm phát hoặc tài trợ các công trình như trường học, bệnh viện, đường xá, công viên. - TP DN (sau đây gọi tắt là TP): Là một loại chứng khoán nợ do DN phát hành, xác nhận nghĩa vụ trả cả gốc và lãi của DN phát hành đối với người sở hữu TP. TP DN bao gồm các loại sau: + TP chuyển đổi là loại TP có thể chuyển đổi thành CP phổ thông của công ty phát hành theo các điều kiện đã được xác định trong phương án phát hành.
Điều kiện chuyển đổi được thể hiện qua chứng quyền phát hành kèm theo. TP chuyển đổi bao gồm 2 loại: TP có bảo đảm là loại TP được bảo đảm thanh toán toàn bộ hoặc một phần gốc, lãi khi đến hạn bằng tài sản của tổ chức phát hành hoặc bên thứ ba hoặc bảo lãnh thanh toán của tổ chức tài chính, tín dụng. TP không có bảo đảm là loại TP không được bảo đảm thanh toán toàn bộ hoặc một phần gốc, lãi bằng tài sản của tổ chức phát hành hoặc bên thứ ba hoặc bảo lãnh thanh toán của tổ chức tài chính tín dụng. + TP không chuyển đổi: Là loại TP không có khả năng chuyển đổi thành CP.
Nhà đầu tư sẽ nhận thuần lãi và nợ gốc. TP không thể chuyển đổi cũng bao gồm 2 loại là TP có bảo đảm và TP không có bảo đảm thanh toán.