CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MARKETING TRONG KINH DOANH DỊCH VỤ THẺ CỦA NHTM 1. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ THẺ CỦA NHTM 1. Khái quát về thẻ ngân hàng a. Sơ lược lịch sử hình thành thẻ thanh toán Thẻ được hình thành từ những năm đầu của thế kỷ 20 tại Mỹ, xuất phát từ thói quen cho khách hàng mua chịu của các cơ sở tư nhân bán lẻ dựa trên uy tín của khách hàng.
Ban đầu, một số cơ sở tư nhân lớn mở rộng dịch vụ bán chịu cho khách hàng và cho phép họ trả tiền sau vào tài khoản của mình. Tuy nhiên, dần dần nhiều cơ sở cung ứng hàng hoá nhận thấy họ không đủ khả năng cho khách hàng nợ và trả sau như vậy. Điều đó tạo cơ hội cho các tổ chức tài chính và ngân hàng vào cuộc. Năm 1914, tổ chức chuyển tiền Western Union của Mỹ lần đầu tiên cung cấp cho các khách hàng đặc biệt của mình dịch vụ thanh toán trả chậm.
Công ty này phát hành những tấm kim loại có chứa các thông tin in nổi thực hiện 2 chức năng; đó là giúp nhận diện, phân biệt khách hàng và cung cấp, cập nhật dữ liệu về khách hàng, bao gồm các thông tin về tài khoản và thông tin về giao dịch thực hiện. Sau khi nhận ra những giá trị của loại hình dịch vụ do Western Union cung cấp, rất nhiều tổ chức cung cấp hàng hóa, dịch vụ trên khắp nước Mỹ đã cung cấp dịch vụ trả chậm cho khách hàng của mình theo phương thức của Western Union. Tiếp theo đó, các ngân hàng cũng chính thức bước vào thị trường thẻ với mục tiêu nhanh chóng nhân rộng hình thức thanh toán này dựa trên mối quan hệ sẵn có giữa các đơn vị cung cấp hàng hóa, dịch vụ trên khắp nước Luan van 7 Mỹ với hệ thống đại lý rộng khắp của ngân hàng. Với tốc độ tăng trưởng rất nhanh và trước những khoản lợi dễ dàng như vậy, chỉ một vài năm sau đó, hơn 100 ngân hàng khác nhau trên nước Mỹ cùng thực hiện ý tưởng phát hành thẻ thanh toán trả chậm, sau này gọi là thẻ tín dụng.
Vào năm 1950, Diners Club phát hành tấm thẻ tín dụng đầu tiên, được làm bằng chất liệu plastic. Sau Diners Club, vào năm 1958, công ty American Epress cũng tham gia vào thị trường thẻ ngân hàng và phát triển thẻ trong lĩnh vực giải trí và du lịch. Năm 1960, ngân hàng Bank of America giới thiệu sản phẩm thẻ đầu tiên của mình - BankAmericard. Đến năm 1966, ngân hàng Bank of America chính thức trao quyền phát hành thẻ BankAmericard của mình cho các ngân hàng khác thông qua việc ký các hợp đồng đại lý, chính thức bắt đầu giai đoạn tăng tốc trong phát triển.
Tới năm 1977, thẻ của ngân hàng Bank of America thực sự được chấp nhận trên toàn cầu và đổi tên thành thẻ Visa. Sau đó, ngày càng có nhiều các tổ chức tài chính của các nước tham gia vào chương trình thẻ ngân hàng. Như vậy, thẻ ra đời từ nhu cầu thanh toán và phát triển dựa trên nền tảng công nghệ tin học. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền văn minh nhân loại và thành tựu của khoa học kỹ thuật, thẻ được xem như là sản phẩm ngân hàng hiện dại dành cho khách hàng cá nhân bên cạnh những sản phẩm và dịch vụ ngân hàng truyền thống.
Khái niệm về thẻ ngân hàng Thẻ là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, ra đời từ phương thức mua bán chịu hàng hóa bán lẻ và phát triển gắn liền với sự ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực ngân hàng. Thẻ là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán hàng hoá dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp. Thẻ còn dùng để thực hiện các dịch vụ thông qua hệ thống Luan van 8 giao dịch tự động hay còn gọi là hệ thống tự phục vụ ATM. Tại Việt Nam, theo Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/5/2007 của Thống đốc NHNN Việt Nam về Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng, thẻ ngân hàng được định nghĩa là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thoả thuận.
Kể từ khi ra đời, cấu tạo của thẻ luôn được cải tiến để phù hợp và thuận lợi cho việc sử dụng, thanh toán thẻ. Thẻ dù do bất cứ tổ chức nào phát hành đều được làm bằng plastic, theo kích cỡ chuẩn quốc tế và thông tin trên thẻ bao gồm ít nhất các yếu tố: tên và logo của tổ chức phát hành thẻ, tên chủ thẻ, số thẻ, ngày hiệu lực của thẻ. Ngoài ra, thẻ còn có thể có thêm một số yếu tố khác theo quy định của các tổ chức thẻ quốc tế hoặc hiệp hội phát hành thẻ. Phân loại thẻ - Phân loại theo đặc tính kỹ thuật + Thẻ khắc chữ nổi (Embossing Card): là loại thẻ được làm dựa trên kỹ thuật khắc chữ nổi.
Trên bề mặt thẻ được khắc nổi các thông tin cần thiết. Đây là loại thẻ đầu tiên được sản xuất. Hiện nay, người ta không dùng loại thẻ này nữa vì kỹ thuật sản xuất quá thô sơ, dễ bị giả mạo. + Thẻ băng từ (Magnetic stripe): là loại thẻ được sản xuất dựa trên kỹ thuật thư tín với hai băng từ chứa các thông tin liên quan đến thẻ và chủ thẻ ở mặt sau của thẻ.
Nhược điểm của thẻ băng từ là thẻ chỉ mang thông tin cố định, khu vực chứa tin hẹp và không áp dụng các kỹ thuật mã hóa đảm bảo an toàn. Do thông tin ghi trong thẻ không tự mã hóa được nên thẻ dễ bị lợi dụng và có thể đọc thẻ dễ dàng nhờ thiết bị đọc gắn với máy vi tính. + Thẻ thông minh hay còn gọi là thẻ chip (Smart Card): là loại thẻ được sản xuất dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học nhờ gắn vào thẻ một chip điện tử có cấu trúc giống như một máy tính hoàn hảo, cho phép đáp ứng các nhu cầu về Luan van 9 lưu trữ dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cũng như một số các nhu cầu về tính toán phức tạp nhờ vào CPU trên chip. Đây là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán.
Ưu điểm của loại thẻ này là có khả năng lưu trữ các thông tin quan trọng được mã hóa với độ bảo mật cao, khó làm giả được. Ngoài ra, thẻ còn giúp cho quá trình thanh toán được thuận tiện, an toàn và nhanh chóng hơn. Thẻ thông minh được gắn chip điện tử để thay thế cho dải băng từ sau thẻ. Chip điện tử độc lập với thẻ và được gắn trên bề mặt của thẻ.
Về bản chất gồm 2 loại chip: chip bộ nhớ và chip xử lý dữ liệu. Chip bộ nhớ lưu trữ toàn bộ các thông tin cần thiết phục vụ cho công tác thanh toán thẻ trong mỗi lần sử dụng; còn chip xử lý dữ liệu có khả năng bổ sung, xoá bỏ hoặc điều chỉnh các thông tin trong bộ nhớ. Thẻ thông minh gắn chip xử lý dữ liệu có khả năng vừa lưu trữ các thông tin về chủ thẻ, điểm thưởng tích luỹ đồng thời lưu trữ cả số liệu về những lần giao dịch của chủ thẻ tại các đơn vị cung ứng hàng hoá, dịch vụ có chấp nhận thẻ. Tính năng vượt trội này của thẻ thông minh giúp cắt giảm chi phí xử lý đối với ngân hàng và các trung gian thanh toán bởi việc đối chiếu thông tin tài khoản và thông tin của chủ thẻ cũng như việc cập nhật thông tin liên quan tới thẻ giờ đây đã được thực hiện ngay tại đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT).
- Phân loại theo chủ thể phát hành thẻ + Thẻ do ngân hàng phát hành: là loại thẻ do ngân hàng phát hành cho khách hàng, giúp khách hàng sử dụng linh hoạt tài khoản của mình tại ngân hàng hoặc sử dụng số tiền do ngân hàng cấp tín dụng. + Thẻ do các tổ chức phi ngân hàng phát hành: là loại thẻ du lịch và giải trí của các tập đoàn kinh tế lớn như Diners Club, American Express,. hoặc thẻ của các công ty xăng dầu lớn, các cửa hiệu lớn phát hành. Loại thẻ này được sử dụng trên phạm vi toàn cầu với các quy trình thanh toán không khác nhiều so với thẻ do ngân hàng phát hành.
Luan van 10 - Phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ + Thẻ ghi nợ (Debit Card): là loại thẻ được gắn liền với tài khoản tiền gửi thanh toán của chủ thẻ tại ngân hàng. Chủ thẻ có thể sử dụng thẻ để rút tiền, chuyển khoản, thanh toán hóa đơn, truy vấn thông tin tài khoản,… tại các máy rút tiền tự động (ATM) hoặc thanh toán hoàng hóa dịch vụ tại các ĐVCNT hay qua kênh Internet Banking. Khi sử dụng thẻ, giá trị giao dịch sẽ được khấu trừ (ghi nợ) ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ. Mức chi tiêu của chủ thẻ phụ thuộc vào số dư trong tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng.
+ Thẻ ký quỹ hay còn gọi là thẻ trả trước (Prepaid Card): là loại thẻ cho phép chủ thẻ sử dụng trong hạn mức mà chủ thẻ đã ký quỹ vào tài khoản ký quỹ hay trả trước cho tổ chức phát hành thẻ. Khi chủ thẻ rút tiền, chuyển khoản hoặc thanh toán hàng hóa dịch vụ, giá trị giao dịch sẽ được khấu trừ trên tài khoản ký quỹ chứ không phải trên tài khoản tiền gửi thanh toán. + Thẻ tín dụng (Credit Card): là loại thẻ cho phép chủ thẻ chi tiêu trong hạn mức tín dụng được ngân hàng cấp và không cần phải trả tiền ngay mà chỉ thanh toán sau một kỳ hạn nhất định hay nói một cách khác là cho phép chủ thẻ chi tiêu trước trả tiền sau. Khoảng thời gian từ khi chủ thẻ sử dụng thẻ cho đến lúc chủ thẻ trả tiền cho ngân hàng phụ thuộc vào từng loại thẻ tín dụng.
Nếu chủ thẻ thanh toán toàn bộ số dư nợ vào ngày đến hạn, chủ thẻ được miễn lãi đối với số dư nợ cuối kỳ. Tuy nhiên, nếu hết thời gian này mà toàn bộ hoặc một phần số dư nợ cuối kỳ chưa được thanh toán cho ngân hàng thì chủ thẻ sẽ chịu lãi vay. Hạn mức tín dụng của chủ thẻ sẽ giảm xuống khi chủ thẻ sử dụng thẻ và sẽ được khôi phục khi chủ thẻ thanh toán tiền cho ngân hàng. Ngân hàng phát hành thẻ tín dụng cho khách hàng dựa trên uy tín và khả năng đảm bảo chi trả của từng khách hàng.