CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Phân tích báo cáo tài chính giúp xác định những nguyên nhân ảnh hưởng tới kết quả, hiệu quả kinh doanh của các tổ chức hoạt động. Do đó, phân tích BCTC được xem là một công cụ không thể thiếu đối với các nhà quản trị, giúp nhà quản trị thấy được trình độ tổ chức sử dụng các yếu tố sản xuất, các nguồn lực tài chính hiện tại để đưa ra quyết định cho tương lai. Trong những nghiên cứu về công tác phân tích tài chính, phần lớn các tác giả đã tiếp cận một cách có hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản như: khái niệm, vai trò, ý nghĩa, phương pháp phân tích, quy trình phân tích,… Có không ít các công trình nghiên cứu về đề tài phân tích báo cáo tài chính, có thể chia thành các nhóm sau: Nhóm 1: Phân tích tài chính đối với nhà quản lý doanh nghiệp. Nhóm đề tài này gồm có: Thạc Mai Anh, (2014), “Hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty Cổ phần An Đạt”; Bùi Thị Minh Phương, (2018), “Hoàn thiện công tác phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển nhà Đà Nẵng”.
Nhóm nghiên cứu này phân tích để đánh giá khả năng hoạt động và đưa ra giải pháp hướng đi để phát triển hoạt động kinh doanh tại doanh nghiệp. Nhóm 2: Phân tích tài chính đối với các nhà đầu tư. Nhóm đề tài này gồm có: Nguyễn Tuấn Anh, (2016), “Phân tích và định giá cổ phiếu DPR của Công ty Cổ phần cao su Đồng Phú”; Tào Thị Việt Hà, (2017), “Phân tích và định giá cổ phiếu công ty cổ phần đầu tư phát triển đô thị và khu công nghiệp Sông Đà”. Các công trình nghiên cứu thuộc nhóm này phân tích tài chính nhằm mục đích đưa ra quyết định đầu tư vốn vào doanh nghiệp.
Nhóm 3: Phân tích tài chính đối với các tổ chức cấp tín dụng. Nhóm đề tài này gồm: Nguyễn Thị Sen, (2016), “Phân tích báo cáo tài chính khách hàng doanh nghiệp trong hoạt động cho vay tại Sở giao dịch Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam”; Trần Thị Thanh Thủy, (2016), “Phân tích báo cáo tài chính khách hàng doanh nghiệp trong hoạt động cho vay tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – chi nhánh Ninh Bình”; Bùi Hoa Phượng, (2020) “Hoàn thiện công tác phân tích tài chính đối với khách hàng doanh nghiệp phục vụ hoạt động tín dụng tại ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng”. Nhóm đề tài này đi sâu phân tích tài chính hướng tới mục 4 đích đánh giá khả năng thanh toán nợ, tiềm năng phát triển của khách hàng doanh nghiệp trước khi cho vay vốn, và chỉ ra kết quả, hạn chế, nguyên nhân và giải pháp để nâng cao chất lượng phân tích tài chính của ngân hàng. Có thể thấy đề đài phân tích tài chính doanh nghiệp là một đề tài không mới và đã có rất nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện.
Tất cả những công trình nói trên, ở những mức độ khác nhau, đã giúp tác giả có một số tư liệu và kiến thức cần thiết để có thể hình thành những hiểu biết chung, giúp tiếp cận và đi sâu nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện công tác phân tích tài chính đối với khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Thủ Đô”. Cho đến nay thì chưa có công trình nghiên cứu nào về việc hoàn thiện công tác phân tích tài chính khách hàng ở ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín chi nhánh Thủ Đô giai đoạn 2018-2020. Chính vì vậy, nghiên cứu này của tác giả sẽ là đề tài mới và có tính đóng góp, xây dựng cho công tác phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng của ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín, giúp ngân hàng có thể giảm thiểu chi phí rủi ro cũng như nâng cao hiệu suất trong quy trình phân tích tài chính khách hàng. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.
Ngân hàng thương mại và hoạt động của ngân hàng thương mại 2. Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại (NHTM) một tổ chức kinh tế, hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, cung cấp một số dịch vụ cho khách hàng và ngược lại nhận tiền gửi của khách hàng với các hình thức khác nhau. Căn cứ theo Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại đã xác định “Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật”. Các nghiệp vụ của NHTM Các NHTM có 3 loại nghiệp vụ chính, đó là nghiệp vụ nợ (huy động tạo nguồn vốn), nghiệp vụ có (sử dụng vốn) và nghiệp vụ trung gian (thanh toán hộ khách hàng).
- Nghiệp vụ nợ Đây là nghiệp vụ huy động tạo nguồn vốn dùng cho các hoạt động của ngân hàng, bao gồm các nguồn vốn sau: Vốn điều lệ; Vốn coi như tự có (lợi nhuận chưa chia, tiền lương chưa đến kỳ thanh toán, các khoản phải nộp nhưng chưa đến hạn nộp, các khoản phải trả nhưng chưa đến hạn trả); Vốn dự trữ; Tiền gửi không và có kỳ hạn của dân cư, doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế; Tiền gửi tiết kiệm; Tiền phát hành trái phiếu, kỳ phiếu; Vốn vay; Các nguồn vốn khác. - Nghiệp vụ có Đây là những nghiệp vụ sử dụng nguồn vốn của mình để thực hiện kinh doanh tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng. Gồm có: Nghiệp vụ ngân quỹ (tiền két, tiền dự trữ, tiền dự trữ vượt mức và tiền gửi thanh toán tại ngân hàng trung ương và các ngân hàng đại lý; Nghiệp vụ cho vay và đầu tư (cho vay tín dụng, thấu chi, chiết khấu thương phiếu, tín dụng tiêu dùng, đầu tư vào chứng khoán, …). - Nghiệp vụ trung gian 6 Ở đây ngân hàng thực hiện nhiệm vụ phục vụ khách hàng, thực hiện các nhiệm vụ theo sự ủy thác của khách hàng, bao gồm: nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ thu hộ, nghiệp vụ thương mại, nghiệp vụ phát hành chứng khoán, nghiệp vụ ủy thác, … 2.
Hoạt động tín dụng của NHTM Hoạt động tín dụng là một trong những nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng, đây là hoạt động sinh lợi chủ yếu và luôn chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng TS có của các NHTM, do đó nó có vị trí rất quan trọng trong hoạt động của ngân hàng. - Khái niệm về tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng (TCTD), với các nhà doanh nghiệp và cá nhân (bên đi vay), trong đó các TCTD chuyển giao TS cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho TCTD khi đến hạn thanh toán. Trong nền kinh tế, ngân hàng đóng vai trò là một định chế tài chính trung gian, vì vậy trong quan hệ tín dụng với các nhà doanh nghiệp và cá nhân, ngân hàng vừa là người cho vay đồng thời vừa là người đi vay. Trong các ngân hàng hiện nay tín dụng được chia thành 02 mảng chính là tín dụng cá nhan và tín dụng doanh nghiệp.
- Đặc điểm của tín dụng ngân hàng + Tín dụng ngân hàng được thực hiện bằng hình thức cho vay tiền tệ, loại hình phổ biến, linh hoạt và đáp ứng mọi đối tượng trong nền kinh tế quốc dân. + Cho vay chủ yếu bằng vốn đi vay của các thành phần trong xã hội chứ không phải hoàn toàn là vốn thuộc sở hữu của chính mình như tín dụng nặng lãi hay tín dụng thương mại. + Có phạm vi lớn vì nguồn vốn bằng tiền là thích hợp với mọi đối tượng trong nền kinh tế, do đó nó có thể cho nhiều đối tượng vay. + Thời hạn cho vay phong phú, có thể cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn do ngân hàng có thể điều chỉnh giữa các nv với nhau để đáp ứng nhu cầu về thời hạn vay.
- Phân loại tín dụng ngân hàng Căn cứ vào thời hạn tín dụng: + Tín dụng ngắn hạn: Có thời hạn không quá 12 tháng. 7 + Tín dụng trung hạn: Có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng. + Tín dụng dài hạn: Có thời hạn cho vay lớn hơn 60 tháng. Căn cứ vào đối tượng tín dụng: + Tín dụng vốn lưu động: Là loại tín dụng được dùng hình thành vốn lưu động của các tổ chức kinh doanh.
+ Tín dụng vốn cố định: Là loại tín dụng được dùng hình thành TS cố định. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn: + Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa: Là loại tín dụng dành cho các doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh khác để tiến hành sản xuất hàng hóa và lưu thông hàng hóa. + Tín dụng tiêu dùng: Là hình thức tín dụng dành cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua sắm, xây dựng nhà cửa, xe cộ. - Vai trò của tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển.
Nhờ có nv tín dụng của ngân hàng nên các doanh nghiệp có điều sung vốn thiếu hụt tạm thời hay mở rộng nv đảm bảo được quá trình sản xuất bình thường và còn có thể mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, áp dụng kỹ thuật công nghệ mới tăng tính cạnh tranh. Tín dụng đã giúp các doanh nghiệp đầy nhanh quá trình sản xuất và tiêu thụ, tạo điều kiện để duy trì mối liên hệ hữu cơ giữa sản xuất, lưu thông hàng hoá và tiêu dùng xã hội. Tín dụng ngân hàng giúp cho việc điều hoà nv góp phần ổn định thị trường tiền tệ, phát triển cân đối các ngành trong nền kinh tế quốc dân và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Thông qua tín dụng mà nv dịch chuyển từ nơi thừa đến nơi thiếu, làm cho xã hội bớt lãng phí ở những nơi thừa vốn, giảm khó khăn ở nơi thiếu vốn, giúp cho việc sử dụng vốn có hiệu quả.
Việc điều hoà NV, đồng thời thông qua khung lãi suất quy định giúp cho chính sách tiền tệ của Chính phủ được thực hiện, điều hoà lưu thông tiền tệ góp phần ổn định tiền tệ, và sự phát triển lành mạnh của thị trường tài chính tiền tệ. Đối với ngân hàng thì cho vay ngân hàng được xem là nghiệp vụ chiếm thị phần lớn và đem lại lợi nhuận rất lớn cho các tổ chức tín dụng.