phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày gồm 3 phần: - Chƣơng 1: Khung nghiên cứu công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp. - Chƣơng 2: Thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp của Chi cục thuế huyện Yên Phong – Tỉnh Bắc Ninh. - Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp của Chi cục thuế huyện Yên Phong – Tỉnh Bắc Ninh. 8 CHƢƠNG 1 KHUNG NGHIÊN CỨU CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về thuế và kiểm tra thuế 1.1 Khái niệm và phân loại thuế 1.1 Khái niệm thuế Sự ra đời và tồn tại của thuế gắn liền với sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng và sự xuất hiện của Nhà nước – pháp luật.Thuế do cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất ban hành.Thuế là công cụ phản ánh quan hệ phân phối lại của cải vật chất dưới hình thức giá trị giữa Nhà nước với các chủ thể khác trong xã hội.
Theo Giáo trình thuế (NXB Tài chính, 2008): Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được quy định nhằm sử dụng cho mục đích công.2 Phân loại thuế a. Căn cứ theo tính chất điều tiết của thuế, thuế được chia thành 2 loại: Thuế trực thu là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của các pháp nhân, thể nhân; bao gồm các loại thuế như thuế thu nhập, thuế đánh vào của cải, thuế đánh vào đối tượng thường trú. Thuế trực thu có ưu điểm đảm bảo sự công bằng trong việc điều tiết thu nhập thặng dư của người nộp thuế nhưng thường gây ra sự phản ứng về thuế của người nộp thuế do không có sự dịch chuyển về thuế và có một sự đảm bảo chắc chắn rằng phải thực hiện một nghĩa vụ nộp tiền. Thuế gián thu là loại thuế gián tiếp thu vào người tiêu dùng thông qua hành vi tiêu dùng hàng hóa của họ, bao gồm các loại thuế như thuế xuất nhập khẩu, thuế gắn với sản xuất và bán hàng hóa.
Thuế gián thu có ưu điểm thường hạn chế sự phản ứng từ người gánh chịu thuế nhưng lại không tạo ra sự bình đẳng về điều tiết thu nhập của những đối tượng có thu nhập chênh lệch. Căn cứ theo đối tượng đánh thuế, thuế được chia thành các nhóm sau: (i) Thuế GTGT, TTĐB, thuế XNK, (ii) Thuế đánh vào thu nhập như thuế TNDN; (iii) thuế thu nhập cá nhân; (iv) Thuế nhà đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp 9 1.3 Các loại thuế đối với doanh nghiệp Theo đối tượng chịu thuế, các loại thuế được áp dụng đối với DN bao gồm: a. Thuế TNDN: Thuế TNDN là loại thuế trực thu, đánh trên phần thu nhập chịu thuế của các tổ chức và cá nhân kinh doanh theo luật định. Thuế GTGT: Thuế GTGT là một sắc thuế gián thu do người mua phải trả khi mua hàng hóa hay thụ hưởng dịch vụ tỷ lệ với GTGT của mỗi khâu lưu thông hàng hóa dịch vụ.
Thuế tiêu thụ đặc biệt: Thuế tiêu thụ đặc biệt là sắc thuế đánh vào việc tiêu dùng một số mặt hàng thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ chịu thuế theo quy định của từng nước. Thuế tài nguyên: Thuế tài nguyên là một khoản thu bắt buộc đối với các tổ chức và cá nhân có hoạt động khai thác những tài nguyên thiên nhiên thuộc đối tượng chịu thuế theo luật định e. Thuế xuất, nhập khẩu: Thuế xuất, nhập khẩu là thuế gián thu, thu vào các mặt hàng được phép xuất nhập khẩu qua biên giới đất liền.2 Kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp 1.1 Khái quát về hoạt động quản lý Nhà nước về thuế đối với DN Quản lý Đăng ký thuế Quản lý nợ và Người nộp cưỡng chế nợ thuế thuế Quản lý kê khai, tính thuế, nộp thuế Kho bạc Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành thuế Hình 1.1: Mô hình tổng quát hoạt động quản lý thu thuế tại Chi cục thuế (Nguồn:Luật Quản lý thuế 78/2006/QH11) 10 Hình 1.1 cho thấy, căn cứ vào Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006, hoạt động quản lý thu thuế tại Chi cục thuế gồm có 4 hoạt động đó là: (i) Quản lý đăng ký thuế (cấp mã số thuế), (ii) Quản lý công tác kê khai và kế toán thuế, (iii) Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế, (iv) Quản lý công tác thanh tra, kiểm tra thuế. Quản lý đăng ký thuế (cấp mã số thuế): Mỗi một cá nhân hay doanh nghiệp muốn ra kinh doanh phải tiến hành đăng ký thuế.
Đăng ký thuế là việc người nộp thuế kê khai những thông tin của người nộp thuế theo mẫu quy định và nộp tờ khai cho cơ quan quản lý thuế để bắt đầu thực hiện nghĩa vụ về thuế với Nhà nước theo quy định của pháp luật. Các đối tượng này có trách nhiệm làm hồ sơ đăng ký thuế và nộp tại địa điểm quy định trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận hoạt động hoặc giấy phép thành lập, hoạt động hoặc Giấy chứng nhận đầu tư; Hoặc kể từ ngày bắt đầu hoạt động kinh doanh đối với tổ chức không thuộc diện đăng ký kinh doanh hoặc hộ gia đình, cá nhân thuộc diện đăng ký kinh doanh nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Công tác quản lý đăng ký thuế tốt thì cán bộ thuế sẽ nắm rõ được đặc điểm của từng đối tượng nộp thuế, từ đó dẫn tới việc quản lý sẽ dễ dàng hơn. Ngược lại, nếu công tác quản lý đăng ký thuế không tốt thì sẽ gây khó khăn cho cán bộ thuế trong việc nắm bắt thông tin về NNT và sẽ khó khăn trong quản lý.
Quản lý công tác kê khai và kế toán thuế: Khai thuế, tính thuế là việc NNT tự kê khai và tự xác định số thuế phải nộp phát sinh trong kỳ tính thuế theo quy định của Luật thuế và các văn bản hướng dẫn thihành. NNT chịu trách nhiệm về tính chính xác của các số liệu trong hồ sơ khai thuế. Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế được thống nhất phù hợp với từng loại tờ khai thuế theo tháng, theo quý, theo năm, theo từng lần phát sinh, quyết toán năm… giúp NNT dễ hiểu, dễ thực hiện.1 cho thấy, công tác kê khai và kế toán thuế là vị trí trung tâm của hoạt động quản lý Nhà nước về thuế. Đây là công tác chứa đựng rất nhiều quy trình 11 quản lý như: Quy trình kê khai, nộp thuế; quy trình gia hạn, giảm, giãn thuế; quy trình hoàn thuế … Vì vậy, công tác này có vai trò rất quan trọng trong tổ chức hoạt động quản lý thu thuế.
Công tác này triển khai tốt sẽ phản ánh được đúng tình hình kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp, theo dõi được số nộp thuế phát sinh, số thuế được miễn, giảm, hoàn… Đồng thời, đây cũng là một kênh rất quan trọng để phục vụ cho công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật của NNT. Nếu công tác quản lý kê khai và kế toán thuế kém hiệu quả sẽ không thể tính đúng, đủ số thuế phải thu và không tạo điều kiện tốt cho các doanh nghiệp khi họ xin gia hạn, giảm và hoàn thuế, điều này sẽ gây thiệt hại không nhỏ đối với NNT. Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế Quy trình quản lý nợ thuế được Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế ban hành kèm theo Quyết định số 2379/QĐ-TCT ngày 22 tháng 12 năm 2014; trong đó có hai nội dung sau: Xây dựng chỉ tiêu thu tiền thuế nợ và đôn đốc thu và xử lý tiền thuế nợ. Nếu công tác quản lý nợ thực hiện tốt sẽ góp phần tăng thu cho NSNN, đảm bảo nhiệm vụ chính trị được giao.
Mặt khác, nếu công tác này hoạt động không tốt sẽ gây khó khăn trong việc thực hiện hoàn thành dự toán thu NSNN hàng năm, đồng thời cũng thể hiện được sự quản lý yếu kém trong công tác quản lý thu thuế. Quản lý công tác thanh tra, kiểm tra thuế: Trong cơ chế tự khai, tự nộp, tự chịu trách nhiệm và mặt bằng chung về ý thức chấp hành pháp luật thuế của NNT còn chưa cao thì công tác thanh tra, kiểm tra thuế ngày càng đóng vai trò quan trọng. Thanh tra, kiểm tra thuế nhằm thực hiện nhiệm vụ thu đúng, thu đủ, thu kịp thời vào NSNN đảm bảo công bằng xã hội, chống các hành vi kinh doanh trái pháp luật, trốn thuế. Giúp cho NNT thực hiện tốt các chính sách, pháp luật về thuế, đề ra những biện pháp chấn chỉnh kịp thời những sai sót của NNT, những thiếu sót về chính sách, chế độ thuế, đồng thời thấy được những ưu, nhược điểm trong quy trình quản lý thu thuế.
Tuy nhiên, nếu công tác này kém hiệu quả sẽ khiến cho các hành vi trốn thuế, gian lận thuế trở lên phổ biến và gây thất thu lớn cho NSNN. Vì vậy, để đảm bảo tính nghiêm minh trong chính sách thuế đòi hỏi phải tăng cường thêm 12 chức năng cho bộ phận thanh tra, kiểm tra, nâng mức xử phạt để có thể răn đe NNT để cho họ nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật thuế. Với đề tài của luận văn, trong phần nội dung này, tác giả đi sâu vào vai trò của công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp. Thứ nhất, kiểm tra thuế góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật về thuế: Hệ thống thuế ở nước ta hiện nay có nhiều sắc thuế khác nhau.
Mỗi sắc thuế có quy định quản lý khác nhau, điều tiết đến mỗi lĩnh vực khác nhau. Do đặc điểm nền kinh tế nước ta đang dần dần chuyển đổi nên mỗi sắc thuế được ban hành ra áp dụng dù có nghiên cứu, xem xét kỹ lưỡng đến đâu thì cũng không tránh khỏi những thiếu sót, bất cập. Chính vì lẽ đó, nhờ có công tác kiểm tra thuế mà có thể tìm thấy được những bất cập của luật, chính sách thuế trong thực tế, điều này góp phần không nhỏ trong việc hoàn thiện, bổ sung các chính sách thuế ngày càng hợp lý, phù hợp với thực tế hơn. Thứ hai, kiểm tra thuế là phương tiện phòng ngừa, răn đe các hành vi vi phạm pháp luật về thuế.
Với tư cách là công cụ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, kiểm tra thuế chính là hoạt động xem xét, kiểm tra tại chỗ làm của các tổ chức, doanh nghiệp, cơ quan và các cá nhân về việc chấp hành các quy định của luật, chính sách thuế.