phần mở đầu và kết luận bao gồm 3 chƣơng: C ƣơn 1 Cơ sở lý luận về kiểm soát chi đầu tƣ xây dựng cơ bản từ nguồn Ngân sách Nhà nƣớc tại Kho bạc Nhà nƣớc. C ƣơn 2 Thực trạng về công tác kiểm soát chi đầu tƣ xây dựng cơ bản tại Kho bạc Nhà nƣớc Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa. C ƣơn 3 Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chi đầu tƣ xây dựng cơ bản tại Kho bạc Nhà nƣớc Nga Sơn Tỉnh Thanh Hóa. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CHI ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGUỒN NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC TẠI KHO BẠC NHÀ NƢỚC 1.
Các khái niệm về đầu tƣ xâ dựn cơ bản 1. Khái niệm về đầu tư xây dựng cơ bản - Đầu tƣ xây dựng cơ bản: là hoạt động đầu tƣ để tạo ra các TSCĐ đƣa vào hoạt động trong các lĩnh vực KT – XH nhằm thu đƣợc lợi ích dƣới hình thức khác nhau. Đầu tƣ XDCB trong nền kinh tế quốc dân đƣợc thông qua nhiều hình thức xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hóa hay khôi phục tài sản cố định cho nền kinh tế. Do vậy đầu tƣ XDCB là tiền đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nền kinh tế nói chung và của các cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng [23; tr.
Công trình xây dựng là sản phẩm đƣợc tạo ra bởi sức lao động của con ngƣời, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình đƣợc liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dƣới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dƣới mặt nƣớc và phần trên mặt nƣớc đƣợc xây dựng theo thiết kế. Công trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình khác. - Xây dựng cơ bản chỉ là một khâu trong hoạt động đầu tƣ XDCB, là các hoạt động cụ thể để tạo ra tài sản cố định nhƣ: hảo sát, thiết kế, xây dựng, lắp đặt. Đầu tƣ xây dựng cơ bản là hình thức đầu tƣ chủ yếu và phổ biến nhất.
- Căn cứ theo Luật Xây dựng năm 2014 [24]: + Chủ đầu tƣ xây dựng là cơ quan tổ chức, cá nhân sở hữu vốn, vay vốn hoặc đƣợc giao trực tiếp quản lý, sử dụng vốn để thực hiện hoạt động đầu tƣ xây dựng. + Cơ quan quản lý nhà nƣớc về xây dựng gồm: Bộ Xây dựng, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) và Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp huyện). 5 + Cơ quan chuyên môn về xây dựng là cơ quan chuyên môn trực thuộc Bộ Xây dựng, Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành; Sở Xây dựng, Sở quản lý công trình xây dựng chuyên ngành; Phòng có chức năng quản lý xây dựng thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện. + Giấy phép xây dựng là văn bản pháp lý do cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền cấp cho chủ đầu tƣ để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, di dời công trình.
Đặc điểm của hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản Loại hình đầu tƣ XDCB thƣờng đem lại kết quả không chỉ cho ngƣời đầu tƣ mà cả nền kinh tế, xã hội đƣợc thụ hƣởng, không chi trực tiếp làm tăng tài sản của ngƣời chủ đầu tƣ mà của cả nền kinh tế, nó chiếm tỷ trọng lớn nhất trong đầu tƣ vì thế ngoài những đặc điểm chung nêu trên, hoạt động đầu tƣ XDCB còn có các đặc điểm riêng biệt nhƣ sau: - Hoạt động đầu tƣ XDCB đòi hỏi một số vốn lớn và nằm khê đọng trong suốt quá trình đầu tƣ. - Hoạt động đầu tƣ XDCB là hoạt động có tính chất lâu dài đƣợc thể hiện ở thời gian thực hiện đầu tƣ (thời gian XDCB của dự án), thời gian cần hoạt động để có thể thu hồi vốn đã bỏ ra đối với các cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất kinh doanh thƣờng đòi hỏi nhiều năm tháng; do đó không tránh khỏi sự tác động hai mặt tích cực và tiêu cực của các yếu tố không ổn định về tự nhiên, xã hội, chính trị và kinh tế. - Trong hoạt động đầu tƣ XDCB do thời gian của quá trình đầu tƣ kéo dài; nên các yếu tố kinh tế, chính trị, tự nhiên ảnh hƣởng sẽ gây nên những tổn thất mà các nhà đầu tƣ không lƣờng hết khi lập dự án. Các yếu tố thiên tai nhƣ bão lụt động đất, chiến tranh có thể tàn phá các công trình đƣợc đầu tƣ.
Sự thay đổi chính sách nhƣ: thuế, mức lãi suất, sự thay đổi thị trƣờng, thay đổi nhu cầu sản phẩm cũng có thể gây thiệt hại cho các nhà đầu tƣ. - Các thành quả của hoạt động đầu tƣ XDCB có giá trị sử dụng lâu dài nhiều năm có khi hàng trăm năm và tồn tại lâu dài điều này nói lên giá trị lớn lao của các thành quả đầu tƣ. 6 - Sản phẩm của đầu tƣ XDCB có tính cố định; gắn liền với đất đai nơi sản xuất và sử dụng. Sản phẩm đầu tƣ sau khi xây dựng xong cố định tại một chỗ, các thành quả của hoạt động đầu tƣ là các công trình xây dựng sẽ hoạt động ngay nơi mà nó đƣợc xây dựng lên.
- Quá trình tiến hành hoạt động đầu tƣ gắn liền với quá trình sản xuất, công việc thƣờng tiến hành ngoài trời và bị ảnh hƣởng lớn của điều kiện tự nhiên. Trong hoạt động đầu tƣ XDCB nơi làm việc và lực lƣợng lao động không ổn định, dẫn tới thời gian ngừng làm việc nhiều, chờ đợi năng suất lao động thấp, dễ gây tâm lý tạm bợ, tùy tiện trong làm việc và sinh hoạt của cán bộ, công nhân ở công trƣờng. - Giá bán của sản phẩm đầu tƣ XDCB đƣợc định trƣớc khi chế tạo sản phẩm, tức là trƣớc khi nhà thầu biết giá thành thực tế của mình thông qua công tác lựa chọn nhà thầu bằng cách đấu thầu hoặc chỉ định thầu. - Trong hoạt động đầu tƣ XDCB thì đầu tƣ từ NSNN thƣờng chiếm tỷ trọng lớn, ngoài những đặc điểm nêu trên thì đầu tƣ XDCB có những đặc điểm riêng nhƣ sau: + Quy mô vốn đầu tƣ lớn: Các thành quả của hoạt động đầu tƣ chủ yếu là các công trình xây dựng đƣợc đầu tƣ từ nguồn vốn NSNN đa số là các công trình lớn, có phạm vi ảnh hƣởng sâu rộng đến sự phát triển kinh tế - xã hội; tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội của các vùng địa phƣơng hoặc ngành của nền kinh tế.
+ Về khả năng thu hồi vốn: Mặc dù tất cả các dự án đầu tƣ từ vốn NSNN đều là những công trình có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế nhƣng khả năng thu hồi vốn lại thấp, thậm chí không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp; do vậy, các dự án này thƣờng không hấp dẫn các thành phần kinh tế khác. Nói cách khác đầu tƣ từ NSNN là hoạt động đầu tƣ chỉ hƣớng vào các lĩnh vực mà các thành phần kinh tế không đƣợc phép đầu tƣ (an ninh quốc phòng nhƣ cảng biển, sân bay,.) hay không muốn đầu tƣ vì không thu đƣợc lợi ích trực tiếp (hồ, thủy lợi đê điều nhà văn hóa sân vận động cấp 7 huyện.); hoặc không có khả năng đầu tƣ do phải dử dụng một lƣợng vốn đầu tƣ rất lớn nhƣ dự án đƣờng Hồ Chí inh đƣờng dây 500KV. + Nguồn vốn để thực hiện đầu tƣ là do NSNN cấp phát trực tiếp; đây là một đặc điểm cơ bản để phân biệt với các hình thức đầu tƣ khác. + Việc quản lý vốn đầu tƣ rất khó khăn dễ bị thất thoát lãng phí; đây là một đặc điểm rất quan trọng trong công tác quản lý vốn đầu tƣ; đặc biệt là vốn đầu tƣ XDCB; từ đó đòi hỏi việc quản lý vốn đầu tƣ từ nguồn NSNN phải đƣợc thƣờng xuyên chú trọng, quán lý vốn cần theo đúng quy định của pháp luật.
Chức năng của đầu tư xây dựng cơ bản Nhƣ đã nêu trên thì đầu tƣ XDCB với mục tiêu làm tăng trƣởng và thay đổi kết cấu của tài sản cố định nên có rất nhiều chức năng trong đó quan trọng nhất là: - Chức năng tạo năng lực mới của đầu tƣ XDCB; các năng lực mới tạo ra có giá trị sử dụng và thông qua đó các nhu cầu có thể đƣợc thỏa mãn; vì vậy chức năng này đảm bảo duy trì hoặc phát triển sản xuất sản phẩm hàng hóa dịch vụ; bảo vệ và cải tạo môi trƣờng nhằm hạn chế, khắc phục những ảnh hƣởng xấu đến sản xuất và tiêu dùng; chức năng này đƣợc coi là chứng năng đầu tiên của đầu tƣ XDCB. - Chức năng thay thế của đầu tƣ XDCB biểu hiện khả năng thay đổi từng tổ hợp các nhân tố sản xuất và khả năng thay thế lẫn nhau của từng nhân tố này do kết quả của quá trình đầu tƣ; nó đƣợc thể hiện ở mức tiết kiệm chi phí trong khu vực sản xuất vật chất; cũng nhƣ trong khu vực dịch vụ nhằm đảm bảo thỏa mãn nhu cầu của nền kinh tế với chi phí xã hội ít hơn. Chức năng này của đầu tƣ XDCB ngày càng tăng lên với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và với việc dẫn dắt nền kinh tế hƣớng vào loại hình phát triển có chiều sâu mà đặc trƣng là thay thế có hiệu quả các yếu tố sản xuất. - Chức năng thu thập và sinh lời đƣợc xác định bởi khả năng tạo ra thu nhập và sinh lời do quá trình đầu tƣ XDCB mang lại; chức năng thu nhập và 8 sinh lời là sự kết hợp các chức năng năng lực và thay thế sẽ tạo điều kiện tăng tổng sản phẩm quốc nội và tồn sản phẩm quốc dân.
Đặc trƣng kết quả thu nhập đánh giá công dụng của đầu tƣ XDCB cũng nhƣ ảnh hƣởng của nó bởi việc tạo ra mối quan hệ giá trị và thu nhập trong nền kinh tế; do đó chức năng thu nhập và sinh lời cũng chính là tác động của nó trong tăng thu nhập của từng chủ thể trong hệ thống kinh tế làm ảnh hƣởng đến việc tăng lợi nhuận và tổng thu nhập của các tổ chức kinh doanh và các tầng lớp dân cƣ trong nền kinh tế.