CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN XUÂN SƠN. TÀI SẢN CỐ ĐỊNH VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm * Tiêu chuẩn ghi nhận tài sản cố định hữu hình Tài sản cô định hữu hình là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất (từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản liên kết với nhau để thực hiện một hay một số chức năng nhất định) thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định hữu hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị… Tư liệu lao động là từng tài sản hữu hình có kết cấu độc lập, hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định mà nếu thiếu bất kỳ một bộ phận nào trong đó thì cả hệ thống không thể hoạt động được, nếu thoả mãn đồng thời cả bốn tiêu chuẩn dưới đây thì được coi là tài sản cố định: (a) Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó; (b) Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy; (c) Thời gian sử dụng ước tính trên 1 năm; (d) Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành. Tiêu chuẩn và nhận biết tài sản cố định vô hình: Mọi khoản chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã chi ra thoả mãn đồng thời cả bốn điều kiện quy định đối với tài sản cố định mà không hình thành tài sản cố định hữu hình thì được coi là tài sản cố định vô hình.
Những khoản chi 13 phí không đồng thời thoả mãn cả bốn tiêu chuẩn nêu trên thì được hạch toán trực tiếp hoặc được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp. Riêng các chi phí phát sinh trong giai đoạn triển khai được ghi nhận là tài sản cố định vô hình được tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp nếu thỏa mãn được bảy điều kiện sau: - Tính khả thi về mặt kỹ thuật đảm bảo cho việc hoàn thành và đưa tài sản vô hình vào sử dụng theo dự tính hoặc để bán; - Doanh nghiệp dự định hoàn thành tài sản vô hình để sử dụng hoặc để bán; - Doanh nghiệp có khả năng sử dụng hoặc bán tài sản vô hình đó; - Tài sản vô hình đó phải tạo ra được lợi ích kinh tế trong tương lai; - Có đầy đủ các nguồn lực về kỹ thuật, tài chính và các nguồn lực khác để hoàn tất các giai đoạn triển khai, bán hoặc sử dụng tài sản vô hình đó; - Có khả năng xác định một cách chắc chắn toàn bộ chi phí trong giai đoạn triển khai để tạo ra tài sản vô hình đó; - Ước tính có đủ tiêu chuẩn về thời gian sử dụng và giá trị theo quy định cho tài sản cố định vô hình. Đặc điểm của Tài sản cố định Đặc điểm chung của TSCĐ trong doanh nghiệp là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm với vai trò là các công cụ lao động. Trong quá trình đó, hình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu của TSCĐ là không thay đổi.
Song giá trị của nó lại được chuyển dịch dần vào giá trị sản phẩm xuất ra. Bộ phận giá trị chuyển dịch này cấu thành một yếu tố chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và được bù đắp mỗi khi sản phẩm được tiêu thụ. Phần giá trị này khi chuyển hoàn toàn thành tiền tệ thì nó được tích luỹ lại thành nguồn vốn khấu hao để tái đầu tư TSCĐ khi TSCĐ bị hư hỏng. Đặc điểm này có ảnh hưởng rất lớn đến việc tổ chức hạch toán TSCĐ từ khâu tính giá đến khâu hạch toán chi tiết và hạch toán tổng hợp TSCĐ.
14 Ngoài ra, TSCĐ còn là sản phẩm của lao động, tức là TSCĐ vừa có giá trị vừa có giá trị sử dụng. Nói cách khác, TSCĐ là một hàng hoá như mọi hàng hoá thông thường khác. Thông qua mua bán, trao đổi TSCĐ có thể được chuyển quyền sở hữu và quyền sử dụng từ chủ thể này sang chủ thể khác trên thị trường tư liệu sản xuất. Vai trò, yêu cầu, nguyên tắc quản lý tài sản cố định trong doanh nghiệp 1.
Vai trò và yêu cầu quản lý Tài sản cố định Tài sản cố định là một bộ phận của tư liệu sản xuất, giữ vai trò là công cụ lao động chủ yếu trong quá trình sản xuất, được coi là cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ công nghệ, thế mạnh của doanh nghiệp. Trong một doanh nghiệp nếu TSCĐ tăng thì sức lao động được tiết kiệm hơn và năng suất lao động tăng cao. Muốn vậy việc quản lý TSCĐ phải được đáp ứng những yêu cầu sau: + Phải quản lý TSCĐ như một yếu tố tư liệu sản xuất cơ bản góp phần tạo ra năng lực sản xuất của đơn vị. Do vậy kế toán cần cung cấp thông tin về số lượng TSCĐ hiện có, tình hình biến động tặng, giảm TSCĐ trong đơn vị.
+ Phải quản lý TSCĐ như một bộ phận vốn sản xuất kinh doanh cơ bản, đầu tư dài hạn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, có tốc độ chu chuyển chậm, có độ rủi ro lớn. Do đó kế toán cần cung cấp những thông tin về loại vốn sản xuất đầu tư. + Phải quản lý bộ phận TSCĐ đã tiêu dùng, đã tiêu hao với tư cách là một loại chi phí vật chất của quá trình sản xuất kinh doanh. Vì vậy yêu cầu kế toán phải tính đúng, tính đủ mức khấu hao, trích tuỳ từng kỳ kinh doanh theo hai mục đích: Thu hồi vốn đầy tư hợp lý và đảm bảo được khả năng bù đắp chi phí.
15 + Quản lý TSCĐ còn là để bảo vệ tài sản cho doanh nghiệp, không những đảm bảo cho TSCĐ “sống” mà là “sống có ích” cho doanh nghiệp, đảm bảo khả năng tái sản xuất và có kế hoạch đầu từ mới khi cần thiết. Nguyên tắc quản lý tài sản cố định: Mọi Tài sản cố định trong doanh nghiệp phải có bộ hồ sơ riêng (bộ hồ sơ gồm có biên bản giao nhận tài sản cố định, hợp đồng, hoá đơn mua tài sản cố định và các chứng từ khác có liên quan). Tài sản cố định phải được phân loại, thống kê, đánh số và có thẻ riêng, được theo dõi chi tiết theo từng đối tượng ghi tài sản cố định và được phản ánh trong sổ theo dõi tài sản cố định. Mỗi tài sản cố định phải được quản lý theo nguyên giá, số khấu hao luỹ kế và giá trị còn lại trên sổ kế toán: Giá trị còn lại trên sổ kế Nguyên giá của tài Số khấu hao lũy kế = - toán của tài sản cố định sản cố định của tài sản cố định Đối với những tài sản cố định không tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh quy định tại khoản 2 Điều 9 của Chế độ này, doanh nghiệp quản lý tài sản cố định này theo nguyên giá, số giá trị hao mòn luỹ kế và giá trị còn lại trên sổ kế toán: Giá trị còn lại trên sổ kế Nguyên giá của tài Giá trị hao mòn lũy = - toán của tài sản cố định sản cố định kế của tài sản cố định Định kỳ vào cuối mỗi năm tài chính, doanh nghiệp phải tiến hành kiểm kê tài sản cố định.
Mọi trường hợp phát hiện thừa, thiếu tài sản cố định đều phải lập biên bản, tìm nguyên nhân và có biện pháp xử lý. Nhiệm vụ kế toán Tài sản cố định trong Doanh nghiệp Để có được những thông tin hữu ích nhằm phục vụ tốt cho công tác quản lý, sử dụng TSCĐ, kế toán phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau đây: * Ghi chép, phản ánh chính xác, kịp thời số lượng, giá trị TSCĐ hiện có, tình hình tăng, giảm và TSCĐ của toàn Doanh nghiệp cũng như tại từng 16 bộ phận sử dụng cung cấp thông tin cho kiểm tra, giám sát thường xuyên việc bảo quản, giữ gìn TSCĐ và kế hoạch đầu tư mới cho tài sản cố định. * Tính toán và phân bổ chính xác mức khấu hao TSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh theo mức độ hao mòn của tài sản cố định và chế độ quy định. * Phản ánh và kiểm tra chặt chẽ các khoản chi phí sửa chữa TSCĐ.
Tham dự toán về chi phí sửa chữa và đôn đốc đưa TSCĐ vào sử dụng một cách nhanh chóng. * Theo dõi, ghi chép, kiểm tra chặt chẽ quá trình thanh lý, nhượng bán TSCĐ nhằm đảm bảo việc quản lý vốn đúng mục đích, có hiệu quả. * Lập báo cáo về TSCĐ, tham gia phân tích tình hình trang bị, sử dụng và bảo quản các loại TSCĐ. Phân loại và tính giá về Tài sản cố định 1.
Phân loại Tài sản cố định * Mục đích của việc phân loại Tài sản cố định Tài sản cố định trong Doanh nghiệp rất đa dạng, có sự khác biệt về tính chất kỹ thuật, công dụng, thời gian sử dụng, …. Do vậy phân loại TSCĐ theo những tiêu thức khác nhau là công việc hết sức cần thiết nhằm quản lý thông nhất TSCĐ trong Doanh nghiệp, phục vụ phân tích đánh giá tình hình trang bị, sử dụng TSCĐ cũng như để xác định các chỉ tiêu tổng hợp liên quan đến TSCĐ. Phân loại TSCĐ là một trong những căn cứ để tổ chức kế toán TSCĐ. Phân loại tài sản cố định theo hình thái biểu hiện.
* Tài sản cố định được biểu hiện dưới 2 hình thái: TSCĐ có hình thái vật chất (TSCĐ hữu hình) và TSCĐ không có hình thái vật chất (TSCĐ vô hình) * Tài sản cố định hữu hình là những TSCĐ có hình thái vật chất cụ thể, thuộc loại này gồm: - Nhà cửa, vật kiến trúc: là tài sản cố định của doanh nghiệp được hình thành sau quá trình thi công xây dựng như trụ sở làm việc, nhà kho, hàng rào, 17 tháp nước, sân bãi, các công trình trang trí cho nhà cửa, đường xá, cầu cống, đường sắt, cầu tầu, cầu cảng. - Máy móc, thiết bị: là toàn bộ các loại máy móc, thiết bị dùng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như máy móc chuyên dùng, thiết bị công tác, dây truyền công nghệ, những máy móc đơn lẻ. - Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: là các loại phương tiện vận tải gồm phương tiện vận tải đường sắt, đường thuỷ, đường bộ, đường không, đường ống.