CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ BẢO TRÌ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ BẢO TRÌ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 1.1 Khái niệm chung về công tác bảo trì và quản lý bảo trì công trình xây dựng Theo khoản 13 Điều 3 - Nghị định 46/2015/NĐ-CP về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng thì: Bảo trì công trình xây dựng là tập hợp các công việc nhằm bảo đảm và duy trì sự làm việc bình thường, an toàn của công trình theo quy định của thiết kế trong quá trình khai thác sử dụng. Nội dung bảo trì công trình xây dựng có thể bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các công việc sau: Kiểm tra, quan trắc, kiểm định chất lượng, bảo dưỡng và sửa chữa công trình nhưng không bao gồm các hoạt động làm thay đổi công năng, quy mô công trình. Quản lý bảo trì công trình là hoạt động có mục đích của chủ thể quản lý công trình (các cấp chính quyền, các chủ sở hữu công trình…) thông qua việc sự dụng các công cụ, các phương pháp và bộ máy quản lý để tác động vào các hoạt động bảo trì nhằm duy trì hoặc thay đổi hoạt động của công trình để đạt được mục tiêu đề ra.
Do vậy, công tác bảo trì và quản lý bảo trì được coi là một trong những khâu đặc biệt quan trọng nhằm bảo đảm chất lượng, tăng cường độ bền của công trình cũng như giảm thiểu chi phí vận hành. Trong thực tế, sự xuống cấp sớm (hoặc cá biệt là xảy ra các sự cố mất an toàn trong quá trình khai thác, sử dụng) của các công trình xây dựng chủ yếu do không thực hiện hoặc thực hiện chưa tốt công tác bảo trì.2 Nhiệm vụ của công tác bảo trì công trình xây dựng Các nhiệm vụ cụ thể của công tác bảo trì công trình xây dựng bao gồm: – Duy trì sự làm việc bình thường theo đúng thiết kế và kéo dài tuổi thọ công trình, đồng thời góp phần giảm chi phí thay thế và sửa chữa công trình. – Hạn chế sự suy giảm tài sản vật chất theo yêu cầu của bên cho vay tài chính đầu tư ban đầu hoặc các đơn vị bảo hiểm công trình. – Tối đa hóa các giá trị thẩm mỹ và kinh tế của tòa nhà cũng như cung cấp môi trường làm việc và sinh hoạt an toàn và hiệu quả cho người sử dụng.3 Nội dung của công tác bảo trì công trình xây dựng Nội dung chính của công tác bảo trì công trình xây dựng bao gồm: – Lập và phê duyệt quy trình bảo trì công trình xây dựng.
– Lập kế hoạch và dự toán kinh phí bảo trì công trình xây dựng. 4 – Thực hiện bảo trì và quản lý chất lượng công việc bảo trì. – Đánh giá an toàn chịu lực và an toàn vận hành công trình. – Lập và quản lý hồ sơ bảo trì công trình xây dựng.4 Yêu cầu với công tác bảo trì công trình xây dựng Theo khoản 1 Điều 126 - Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 yêu cầu về bảo trì công trình xây dựng được quy định như sau: – Công trình, hạng mục công trình xây dựng khi đưa vào khai thác, sử dụng phải được bảo trì; – Quy trình bảo trì phải được chủ đầu tư tổ chức lập và phê duyệt trước khi đưa hạng mục công trình, công trình xây dựng vào khai thác, sử dụng; phải phù hợp với mục đích sử dụng, loại và cấp công trình xây dựng, hạng mục công trình, thiết bị được xây dựng và lắp đặt vào công trình; – Việc bảo trì công trình phải bảo đảm an toàn đối với công trình, người và tài sản.5 Phân loại bảo trì Công tác bảo trì được phân theo các nhóm A, B, C, D tùy theo tầm quan trọng của kết cấu, đặc điểm kết cấu, tuổi thọ thiết kế, điều kiện môi trường, mức độ tác động tới xung quanh, độ dễ bảo trì và giá bảo trì.
Các nhóm bảo trì và yêu cầu bảo trì tương ứng được quy định trong bảng 1.1 - Phân loại bảo trì theo các nhóm Nhóm Loại công trình Yêu cầu thực hiện bảo trì bảo trì Nhóm - Công trình đặc biệt quan trọng, - Thực hiện tất cả các nội dung A - Bảo có liên quan tới an toàn quốc gia, bảo trì (kiểm tra, phân tích cơ chế trì phòng chống cháy nổ và môi xuống cấp, đánh giá mức độ và tốc phòng trường; độ xuống cấp, xác định giải pháp ngừa - Công trình thường xuyên có rất sửa chữa, sửa chữa). nhiều người làm việc hoặc qua lại. - Đặt thiết bị theo dõi công trình - Công trình không có điều kiện dễ lâu dài. - Thực hiện các biện pháp phòng - Công trình có tuổi thọ thiết kế ngừa ngay từ giai đoạn thiết kế, thi đến 100 năm hoặc lâu hơn.
Nhóm B Các công trình dân dụng và công - Thực hiện tất cả các nội dung - Bảo trì nghiệp thông thường, có tuổi thọ bảo trì (kiểm tra, phân tích cơ chế thông thiết kế dưới 100 năm và có thể xuống cấp, đánh giá mức độ và tốc thường sửa chữa khi cần. độ xuống cấp, xác định giải pháp sửa chữa, sửa chữa). 5 Nhóm Loại công trình Yêu cầu thực hiện bảo trì bảo trì - Có thể đặt hệ thống thiết bị theo dõi lâu dài. - Kiểm tra ban đầu, thường xuyên, định kỳ được thực hiện chủ yếu bằng mắt và các phương tiện đơn giản Nhóm C Công trình tạm, có niên hạn sử - Bảo trì chủ yếu bằng quan sát - Bảo trì dụng dưới 20 năm thường xuyên.
Không cần khảo sát quan sát chi tiết. Khi công trình có dấu hiệu xuống cấp thì hoặc là tiến hành sửa chữa đơn giản, hoặc là phá dỡ. Nhóm Công trình dàn khoan ngoài khơi, - Không tiến hành kiểm tra thường D - Bảo công trình ngầm dưới đất, công xuyên và định kỳ đối với các chi trì trình dưới nước tiết khuất. Kiểm tra chi tiết và không kiểm tra đột xuất được tiến hành quan sát khi dấu hiệu hư hỏng cho thấy cần phải sửa chữa.
- Có thể thực hiện biện pháp phòng ngừa ngay trong giai đoạn thiết kế và thi công (như bảo vệ bề mặt, đặt catôt bảo vệ).6 Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản lý bảo trì công trình xây dựng 1) Đặc tính của công trình: Các công trình có cấp và tuổi thọ khác nhau thì các quy định và quy trình bảo trì khác nhau. Ngoài ra kích thước của công trình, phương án kết cấu, công năng công trình và vật liệu sử dụng cũng là các yếu tố cần xét đến khi lập quy trình bảo trì và khi thực hiện việc bảo trì công trình dân dụng. 2) Chất lượng thiết kế: Nhà thầu thiết kế xây dựng công trình lập quy trình bảo trì công trình xây dựng cho chủ đầu tư chưa tối ưu và phù hợp với các tiêu chuẩn và quy định hiện hành, hoặc cập nhật quy trình bảo trì chưa phù hợp với các nội dung thay đổi thiết kế trong quá trình thi công xây dựng. Việc này làm cho việc thực hiện bảo trì về sau không hiệu quả; Các khiếm khuyết trong các tòa nhà mới xây là các vị trí không tuân thủ các quy chuẩn về xây dựng, các tiêu chuẩn thiết kế hiện hành và các dung sai cho phép.
Nguyên nhân có thể do lỗi trong quan điểm thiết kế, hệ số an toàn thấp, tính toán thiếu tải trọng, 6 mối nối không đảm bảo, lỗi tính toán hoặc sử dụng sai phần mềm, sử dụng vật liệu không phù hợp. Điều này làm công trình nhanh xuống cấp và tăng chi phí bảo trì; Các sự cố chính mà các công ty bảo trì đang phải xử lý hiện nay là do thiếu xót trong công tác thiết kế công trình, chất lượng và hiệu năng của công trình kém liên quan trực tiếp đến việc bố trí chức năng cũng như lựa chọn vật liệu và trang thiết bị cho công trình; Thiếu sự liên lạc giữa các công ty thiết kế và các công ty bảo trì cũng như người sử dụng tòa nhà hoặc chủ sở hữu đã dẫn đến các công ty thiết kế không nhận thức đầy đủ về các vấn đề liên quan đến bảo trì mà chủ sở hữu tòa nhà thường xuyên báo cáo; Không chú ý đến lợi ích của việc thiết kế để dễ dàng bảo trì về sau, những yếu tố có thể kéo dài tuổi thọ công trình, giảm tỉ lệ hư hỏng và vì thế mà giảm chi phí bảo trì. 3) Chất lượng thi công: Thi công kết cấu tòa nhà không phù hợp với bản vẽ và chỉ dẫn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn hiện hành làm giảm chất lượng công trình và làm tăng chi phí sửa chữa. Các lỗi do thi công như: trình tự xây dựng không đúng; biện pháp thi công không đảm bảo; tải trọng thi công quá lớn; tháo ván khuôn quá sớm; thi công không theo hồ sơ thiết kế; tự ý thay đổi vật liệu hoặc sử dụng vật liệu có lỗi do sản xuất hoặc chế tạo vào xây dựng công trình.
4) Chất lượng vật liệu: Việc sử dụng vật liệu xây dựng công trình không phù hợp làm cho công trình dễ bị môi trường xâm thực gây ra sự xuống cấp nhanh chóng hoặc dễ bị hỏng hóc như: dùng thép dễ bị gỉ và ăn mòn trong môi trường tiếp xúc trực tiếp với đất hoặc nước, sử dụng bê tông không đúng cấp phối hoặc thiếu các phụ gia cần thiết hoặc sử dụng các vật liệu mối hàn quá kém trong kết cấu thép… Việc này làm tăng chi phí bảo trì và giảm tuổi thọ công trình. 5) Con người và quá trình sử dụng: Do nhu cầu sinh hoạt nên người sử dụng có thể thay đổi công năng cũng như kết cấu của công trình hiện trạng so với thiết kế ban đầu. Sự thay đổi do kém về nhận thức và kiến thức này có thể làm cho công trình hoặc bộ phận công trình chịu thêm các tải trọng bất lợi làm cho công trình hỏng hoặc nhanh xuống cấp hoặc gây khó khăn cho việc khắc phục thay thế nên ảnh hưởng đến công tác bảo trì. Ngoài ra sự chậm trễ hoặc không báo cáo hư hỏng của người sử dụng cũng là một trong các yếu tố làm giảm chất lượng công trình.
Những sự cố bất thường xảy ra khi công trình sử dụng như cháy nổ, lũ lụt, động đất làm cho công trình chịu thêm những tải trọng ngoài thiết kế cũng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và kế hoạch bảo trì.