Chương 1: Cơ sở lý luận về động lực và tạo động lực cho người lao động trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng về công tác tạo động lực tại công ty TNHH Viện Công nghiệp Giấy và Xenluylô. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác tạo động lực cho người lao động thông qua các công cụ kinh tế tại công ty TNHH Viện Công nghiệp Giấy Và Xenluylô. Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn của Th.S Mai Anh Bảo đã tận tình chỉ dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình em làm và hoàn thành đề tài này.
Em xin chân thành cảm ơn công ty TNHH Viện Công nghiệp Giấy và Xenluylô và cô Nghiêm Thị Mỹ Châu đã tạo điều kiện cho em thu thập số liệu dé hỗ trợ cho việc hoàn thành đề tài này. Em xin chân thành cam ơn! SV: Trần Thị Thúy 2 Lép: Quan lý kinh tế 52A Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Mai Anh Bao CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE DONG LUC VA TAO DONG LUC CHO NGUOI LAO DONG TRONG DOANH NGHIEP 1. Khái niệm về động lực Động lực trong lao động là sự nỗ lực, cô gắng từ chính bản thân người lao động trong quá trình thực hiện công việc, nó lý giải cho lý do tại sao một người lại hành động. Con người chủ động thực hiện một hành vi nào đó khi ý thức của họ được kích thích, thôi thúc, nhằm thỏa mãn nhu cầu mong muốn của họ; ngược lại, khi họ ở trong trạng thái phải chịu áp lực từ công việc hay nhận thấy công việc đó không đáp ứng được nhu cầu của họ thì bản thân công việc đó lại trở thành gánh nặng gây ức chế tinh thần, khiến con người làm việc một cách thụ động và không tự nguyện hành động hoặc hành động không rõ mục đích, làm giảm hiệu quả công việc rõ rệt.
Động lực là yếu tố tác động vào nhận thức của con người giúp kích thích, duy trì sự nỗ lực trong dài hạn của con người, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng công việc của từng cá nhân và hơn thế, đó là đạt được mục tiêu hoạt động của tổ chức với những điều kiện làm việc mà một tổ chức tạo ra cho các cá nhân thành viên của tổ chức đó. Người có động lực làm việc sẽ hình thành cho mình tính tự giác chịu trách nhiệm và sự đam mê, chủ động sáng tạo trong công việc, hướng kết quả công việc theo chiều hướng tích cực hơn. Từ đó, ta có thể rút ra khái niệm: “Động lực là những yếu tố tạo ra lý do hành động cho con người và thúc day con người hành động một cách tích cực, có năng suất, chất lượng, hiệu quả, có khả năng thích nghi và sáng tạo cao nhất trong tiêm năng của họ”.! Động lực làm việc là sự thúc đây con người làm việc hăng say, giúp họ phát huy được sức mạnh tiềm tàng bên trong, vượt qua được những thách thức, khó khăn để hoàn thành công việc một cách tốt nhất. ! Trích trong trang 717 — Giáo trình Quản lý học.
SV: Trần Thị Thúy 3 Lép: Quan lý kinh tế 52A Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Mai Anh Bao Mỗi người có một hay một số nhu cầu khác nhau trong cuộc sống, hình thành nhu cầu khác nhau trong công việc, do đó không có động lực chung cho mọi lao động, đồng thời vào các thời điểm khác nhau của công việc và tổ chức, người lao động sẽ có các nhu cầu khác nhau. Do đó, động lực không cô định, nó thay đổi theo đối tượng người lao động và theo từng giai đoạn hoạt động của tổ chức. Như vậy, con người là vốn quý nhất của doanh nghiệp thì động lực chính là yếu tố quyết định sự giàu có của nguồn vốn quý giá ấy, động lực xuất phát từ bản thân của mỗi con người. Khi con người ở những vị trí khác nhau, với những đặc điểm tâm lý khác nhau sẽ có những mục tiêu mong muốn khác nhau.
Do đó, nhà quản lý cần có những cách tác động khác nhau dé đạt được mục tiêu trong quản lý. Vai trò của công tác tạo động lực trong doanh nghiệp Tạo động lực là hệ thong các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản ly tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công viéc. Động lực làm việc của các cá nhân trong tổ chức đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất, hiệu quả làm việc cho cá nhân và tổ chức. e Vai trò của động lực làm việc của nhân viên đôi với hiệu quả hoạt động của tô chức được thê hiện ở những khía cạnh sau đây: - Động lực làm việc quyét định hiệu suat làm việc của các cá nhân trong tô chức.
Một người có thé có ít kỹ năng và kinh nghiệm nhưng nếu họ tích cực học tập và được hướng dẫn, huấn luyện, được chia sẻ kinh nghiệm sẽ có thể chủ động khắc phục những hạn chế và đạt được kết quả như mong muốn. Hiện nay, doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức và nhiều biến động khó dự báo trước, phải vận hành bộ máy trong điều kiện nguồn lực ngày càng hạn chế; vì vậy việc bảo đảm hiệu quả hoạt động của tổ chức cũng gặp nhiều khó khăn hơn. Trong bối cảnh đó, để nâng cao hiệu quả hoạt động của tô chức, đòi hỏi phải có được đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực, phâm chât và có động lực làm việc. SV: Trần Thị Thúy 4 Lép: Quan lý kinh tế 52A Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Mai Anh Bao Hiệu quả làm việc của tổ chức được nang lên không những bởi hiệu suất làm việc được gia tang ma còn do tiết kiệm được nguồn lực, giảm chi phí hoạt động trong tô chức.
Điều này chỉ có thể đạt được khi người lao động của tổ chức có động lực làm việc. - Động lực làm việc là cơ sở đem lại sự sáng tạo trong tô chức. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh, người có động lực làm việc thường cảm thấy thoải mái và say mê với nhiệm vụ được giao. Vì vậy, họ luôn thé hiện tính sáng tạo trong công việc, giúp t6 chức có thêm những ý tưởng sáng tạo, đổi mới, tạo ra sự đột phá trong tô chức, từ đó giúp tô chức thích ứng được với những thay đổi của môi trường và chủ động tao ra những thay đổi.
- Động lực làm việc giúp giảm thiểu những vấn đề có tác động tiêu cực nảy sinh trong hoạt động của tổ chức. Người lao động có động lực làm việc giúp giảm thiểu tai nạn nghề nghiệp, các vấn đề vi phạm đạo đức, vi phạm kỷ luật, nghiêm trọng hon là hiện tượng bỏ việc, gây mất đoàn kết nội bộ tô chức. Bởi vậy, người có động lực làm việc thường có sức khoẻ về thé chất và có tinh thần tốt do sự say mê công việc và trạng thái tâm lý ổn định. Người có động lực làm việc cao sẽ gắn kết với tổ chức, sáng tạo hơn và phục vụ nhu cầu của khách hàng tốt hơn, do đó họ sẽ góp phần thúc đây sự thành công của tổ chức.
Động lực làm việc trong tô chức cũng giúp xây dựng bầu không khí làm việc thân thiện, có sự hợp tác chia sẻ, ít tranh chấp. Người lao động của tổ chức sẵn sàng thích ứng với thay đổi và không phản ứng tiêu cực với những thay đổi. Day là cơ sở quan trọng dé nâng cao hiệu quả hoạt động của một tô chức. Do vậy, những người lao động có động lực làm việc được coi là tài sản quý giá nhât của một tô chức.
e Vai trò của công tác tạo động lực cho người lao động: Mục đích quan trọng nhât của tạo động lực là sử dụng hợp lý nguôn lao động, khai thác hiệu quả nguôn lực con người nhăm không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động của tô chức. - Động lực có ảnh hưởng đên hiệu suât làm việc của cá nhân và tô chức, điêu này luôn luôn đúng đôi với bât cứ tô chức nảo, do đó, công tác tạo động SV: Trần Thị Thúy 5 Lép: Quan lý kinh tế 52A Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Mai Anh Bao lực làm việc luôn được quan tâm ở các loại hình tổ chức. Day được coi là một trong những chức năng quan trọng của nhà quản lý, là yếu tố mang tính quyết định hiệu quả làm việc và khả năng cạnh tranh của tổ chức. - Trong doanh nghiệp, đội ngũ nhân viên là chủ thể của các hành động trong quá tính thực hiện sản xuất kinh doanh.
Vì vậy, để nâng cao hiệu quả hoạt động của tô chức thì trước hết cần phải quan tâm tạo động lực làm việc cho họ và nhà quản lý chính là chủ thé có trách nhiệm tạo môi trường dé đánh thức động lực trong người lao động. Nhà quản lý muốn nhân viên của mình nỗ lực hết sức vì tổ chức thì họ phải sử dụng tất cả các biện pháp khuyến khích đối với người lao động đồng thời tạo mọi điều kiện cho họ hoàn thành công việc một cách tốt nhất, hình thức khuyến khích bao gồm các công cụ vật chất và công cụ tinh thần, tùy vào từng đối tượng người lao động mà nhà quản lý sẽ quyết định lựa chọn công cụ phù hợp cho chính sách của mình. Vị trí của công cụ kinh tế trong các học thuyết tạo động lực 1. Học thuyết phân cấp nhu cầu của Abraham Maslow a.
Nội dung cơ bản của học thuyết Theo Abraham Maslow, hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu và các nhu cầu của con người được sắp xếp theo một thứ tự ưu tiên từ thấp tới cao. Theo tầm quan trọng, cấp bậc nhu cầu được sắp xếp thành năm bậc sau: (1) Nhu cầu sinh lý: là những nhu cầu cơ bản đảm bảo cho con người tồn tại như: ăn, uống, mặc, tồn tại, các nhu cầu khác của cơ thê. (2) Nhu cầu an toàn: là các nhu cầu về sự an toàn, thông qua các chuẩn mực, luật lệ. (3) Nhu cầu xã hội (nhu cầu liên kết và chấp nhận): là nhu cầu cần được người khác chấp nhận như bạn bè, đồng nghiệp, xã hội.
(4) Nhu cầu được tôn trọng: là các nhu cầu về tự trọng, được người khác tôn trọng, đem đến sự thỏa mãn về uy, quyền, địa vị. (5) Nhu cầu tự hoàn thiện (nhu cầu tự thể hiện): là các nhu cầu được tự thê hiện mình như tự chủ, sáng tạo. Maslow đã chia các nhu cầu thành hai cấp: cấp cao và cấp thấp. Nhu cầu cấp thấp là các nhu cầu sinh lý và nhu cầu an toàn.