MỞ ĐẦU Nhiệm vụ cơ bản của Hóa học phân tích ngày nay là phân tích định tính, định lượng, xác định cấu trúc, tách, phân chia làm sạch. Đối với phần ứng dụng của Hóa phân tích trong ngành Môi trường cũng như ngành Công nghệ sinh học nói riêng, phân tích định lượng đóng vai trò chủ yếu. Phân tích định lượng có nhiệm vụ xác định hàm lượng một chất, thường là trong một hỗn hợp và ở thể rắn hay thể hòa tan trong các dung dịch. Trước khi tiến hành phân tích định lượng, phải biết thành phần định tính của đối Pa BÀI 1: TONG QUAN VE HOA PHAN TicH — NHAC LAI MOT S6 KIEN THUC CO’ BAN CO LIEN QUAN tượng phân tích.
Nói chung, đối với các mẫu cần phân tích trong ngành môi trường hay trong ngành công nghệ sinh học, mục tiêu đặt ra là phải xác định được cụ thể một chất hay một cấu tử nào đó cần được biết với hàm lượng hiện diện trong mẫu là bao nhiêu. Công tác phân tích định tính thường được kết hợp với công tác phân tích định lượng, cùng với các thông tin thu thập được có liên quan để dự đoán sự hiện diện của các cấu tử trong mẫu. Vì vậy trong giới hạn của tập bài giảng này, thuật ngữ ®Hóa phân tích” được hiểu đồng nhất với thuật ngữ "Hóa phân tích định lượng”. Có thể phân chia các phương pháp phân tích định lượng thành 2 loại: các phương pháp hóa học và các phương pháp hóa lý và vật lý (hay công cụ hoặc dụng cụ).
-_ Các phương pháp hóa học: chủ yếu dựa trên việc áp dụng các phản ứng hóa hoc có liên quan đến cấu tử phân tích. Phương pháp này đã có từ lâu, đơn giản và dễ ứng dụng ở mọi nơi mà sự chính xác chỉ đạt tới mức độ nhất định phụ thuộc vào phản ứng hóa học. Các phương pháp hóa học gồm: «Ổ _ Phương pháp phân tích khối lượng: tách cấu tử cần xác định ra khỏi hỗn hợp với các cấu tử khác trong mẫu một cách gián tiếp hay trực tiếp. Dựa vào khối lượng của hợp chất mới (tạo thành sau) và khối lượng của mẫu ban đầu mà tính ra hàm lượng cấu tử cần phân tích.
¢ Phương pháp phân tích thể tích: căn cứ vào thể tích thuốc thử đã tác dụng vừa hất với chất cần xác định mà tính ra hàm lượng chất cần định lượng. Hiện nay, các phương pháp hóa học vẫn được sử dụng rất rộng rãi và phổ biến. Các phương pháp này còn có tên gọi là các phương pháp kinh điển. - Cac phương pháp vật lý và hóa lý (phương pháp công cụ, phương pháp dụng cụ): dựa trên việc đo một tính chất vật lý nào đó (độ hấp thu ánh sáng, độ dẫn điện, khả năng dẫn nhiệt.) của đối tượng cần phân tích trong mẫu.
Tính chất này là một hàm số của nông độ cấu tử cân xác định, từ đó căn cứ vào kết quả đo để suy ra hàm lượng chất cân định lượng. Hầu hết các phương pháp vật lý và hóa lý đầu là các phương pháp đòi hỏi dùng máy đo ngoài các dung cụ thông thường nên nó còn được gọi dưới tên khác rất thường gặp trong các giáo trình về Hóa học phân tích là các phương pháp dụng cụ hay công cụ. Trong thời gian gần đây, các phương pháp vật lý và hóa lý đã phát triển mạnh nhờ các ưu điểm như độ BÀI 1: TỔNG QUAN VỀ HÓA PHÂN TÍCH — NHẮC LẠI MỘT SỐ KIẾN THỨC CƠ BẢN CÓ LIÊN QUAN a nhạy cao, tốc độ phân tích nhanh, có thé phân tích với lượng mẫu rất nhỏ (dạng vết). Tuy vậy, nó cũng có một số nhược điểm như phải dùng mẫu chuẩn, công tác tiền xử lý trước khi đo đạc đôi khi khá phức tạp.
Vì vậy, các phương pháp hóa học vẫn đóng vai trò quan trọng và cần thiết trong phân tích hiện đại, và tùy theo từng trường hợp cụ thể để lựa chọn phương pháp phân tích phù hợp. Các bước của quá trình phân tích mẫu bất kỳ bao gồm: Chọn mẫu đại diện: làm sao để chỉ với một phần nhỏ mẫu mà có thể đại diện cho toàn bộ đối tượng phân tích. Chuyển chất cần phân tích vào dung dịch: khi tiến hành phân tích bằng phương pháp hóa học cần hòa tan hoàn toàn mẫu trong dung môi thích hợp và tiến hành phân tích trong dung dịch. Khi sử dụng phương pháp vật lý có thể không cần hòa tan mẫu nhưng phải có một số động tác xử lý hóa học trước.
Tiến hành phân tích bằng phương pháp hóa học hay hóa lý. Việc che hay loại bỏ các cấu tử cản trở khi phân tích cấu tử chính (nếu cần) bằng các phương pháp hóa học, hóa lý và vật lý có thể được thực hiện trước hay đồng thời với quá trình phân tích. Ghi nhận kết quả của phép phân tích: đo thể tích thuốc thử đã dùng khi phản ứng hoặc ghi nhận kết quả tín hiệu trên máy đo. Tính toán kết quả phân tích bao gồm đánh giá kết quả và độ chính xác của kết quả phân tích.2 LẤY MẪU VÀ CHUẨN BỊ MẪU TRƯỚC KHI THỰC HIỆN PHÂN TÍCH Các bước lấy mẫu và chuẩn bị mẫu thường hay bị xem nhẹ hơn tầm quan trọng của nó.
Thực tế thì kết quả phân tích chỉ có ý nghĩa khi mẫu thí nghiệm mang tính đại diện cho quần thể và trước khi phân tích, mẫu phải được xử lý về dạng thích hợp. Theo khảo sát, có đến 70 % các trường hợp bị sai lệch trong kết quả phân tích bắt nguồn từ khâu lấy mẫu và chuẩn bị mẫu. | 4 BÀI 1: TONG QUAN VE HOA PHAN TicH — NHAC LAI MOT S6 KIEN THUC CO’ BAN CO LIEN QUAN 1.1 Khái niệm một số loại mẫu thường dùng Mẫu riêng: được chọn ngẫu nhiên, thường từ các vị trí khác nhau hoặc từ các bao gói riêng lẻ khác nhau. Mẫu chung hay mẫu tổ hợp: các mẫu riêng được nhập chung lại với nhau tạo thành mẫu tổ hợp.
Mẫu trung bình thí nghiệm: mẫu chung được nghiền nhỏ đến độ mịn thích hợp hay hòa trộn thật đều, sau đó lấy ra một phần làm mẫu thí nghiệm. Mẫu trung bình thí nghiệm được chia thành 2 phần bằng nhau: phần đem phân tích (đủ để thực hiện 3 thí nghiệm), và phần lưu lại tại PTN để có thể kiểm tra lại khi cần.2 Một số chú ý khi chuẩn bị mẫu Đa số các trường hợp đòi hỏi phải hòa tan để chuyển mẫu dạng rắn thành dạng dung dịch có nồng độ xác định trước khi phân tích. Cũng có trường hợp dù mẫu đã ở trạng thái lỏng nhưng vẫn cần phải xử lý mẫu trước khi tiến hành phân tích, ví dụ phân tích một số kim loại bằng phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử AAS, phân tích chỉ tiêu nhu cầu oxy hóa học (COD) trong nước thải. Khi hòa tan xử lý mẫu, không được làm mất mẫu và không đưa thêm quá nhiều cấu tử vào mẫu sẽ gây ảnh hưởng đến kết quả phân tích.
Dung môi và hóa chất được lựa chọn để hòa tan mẫu thường theo thứ tự: nước cất -> acid mạnh -› base mạnh -› chất oxy hóa mạnh. Với mỗi cấu tử cần xác định trong đối tượng mẫu nhất định có thể đòi hỏi cách thức chuẩn bị mẫu riêng, do đó cần tra cứu tài liệu để tìm được thủ tục chuẩn bị mẫu phù hợp. Các phương thức chuẩn bị mẫu thường được áp dụng hiện nay gồm: « Vô cơ hóa mẫu: hòa tan mẫu trong một axit hay hỗn hợp nhiều axit (như HCl, HNOs + HCI, HNO3 + HCIO4 + HF.) « Tro hóa mẫu: nung mẫu ở 550 °C rồi hòa tan tro thu được trong axit. e Phân hủy mẫu bằng vi sóng trong thiết bị vi sóng: nhanh, an toàn và phù hợp với các cấu tử dễ bay hơi.
BÀI 1: TỔNG QUAN VỀ HÓA PHÂN TÍCH — NHẮC LẠI MỘT SỐ KIẾN THỨC CƠ BẢN CÓ LIÊN QUAN Ra 1.3 BIEU DIEN SO LIEU HOA PHAN TICH 1.1 Biểu diễn hóa học Người ta thường biểu diễn cấu tử phân tích theo dạng tồn tại của nó trong chất phân tích. Ví dụ, Nitở thường được biểu diễn dưới các dạng NOz', NOz', NHa, NH4". , các muối thường được biểu diễn dưới dạng ion như K†?, SOa?., các ion kim loại trong các hợp chất khác nhau thường được biểu diễn dưới dạng tổng như tổng Fe, tổng Mn.2 Biểu diễn số học Hàm lượng cấu tử có trong mẫu thường được biểu diễn dưới dạng hàm lượng %, hàm lượng phần triệu (mg/L hay ppm), hàm lượng phần ti (ug/l hay ppb).3 Các loại nông độ sử dụng trong Hóa phân tích 1.1 Nông độ phần trăm khối lượng (C %) Biểu thị khối lượng chất tan có trong 100 g dung dịch.2 Nông độ khối lượng trên thể tích (C g/1) Biểu thị khối lượng chất tan trong 1 đơn vị thể tích dung dịch (g/l, mg/L).3 Nông độ mol (Cu hay mol/L) Biểu thị số mol chất tan trong 1 L dung dịch.4 Nông độ phần triệu (ppm) và nông độ phần tỉ (ppb) Biểu thị khối lượng chất tan chứa trong 10 lần (ppm = part per million) va 10° lần (ppb = part per billion) của khối lượng mẫu có cùng đơn vị. Hai loại nồng độ này được sử dụng rất phổ biến trong kỹ thuật đo lường nồng độ các chất gây ô nhiễm môi trường hay một số độc chất hiện diện trong thực phẩm.
1 ppm = 1 mg/10°mg = 1 mg/kg = 1 g/10°g = 1 g/1000kg. 1 ppb = 1 mg/10°mg = 1 mg/10°kg = 1 pg/kg. a BAI 1: TONG QUAN VE HOA PHAN TicH — NHAC LAI MOT S6 KIEN THUC CO’ BAN CO LIEN QUAN 1.5 Nồng độ đương lượng (Can hay N) Là số đương lượng gam (số Ð) hay số đương lượng (số đ) chất tan trong 1 L dung dịch (hay số mili đương lượng gam / số mili đương đượng chất tan trong 1 L/1 mL dung dịch). Loại nồng độ này được sử dụng phổ biến nhất trong Hóa phân tích định lượng.
a Cu=c (11 N=Vp (Ẳ ) Với: Ð là khối lượng đương lượng của chất (một số tài liệu gọi là đương lượng gam hay mol đương lượng của chất); a là số g của chất trong V (L) dung dịch; V là thể tích dung dịch (L) đang xét; Sinh viên cần xem lại trong phần lý thuyết các khái niệm: đương lượng, khối lượng đương lượng (hay đương lượng gam/mol đương lượng) và nồng độ đương lượng để phân biệt rõ. Xem lại cách tính khối lượng đương lượng (hay đương lượng gam/mol đương lượng) của chất trong các phản ứng khác nhau.