Chương 1: TONG QUAN NGHIÊN CUU 1. Các công trình nghiên cứu cơ sở lý luận về ODA Các công trình nghiên cứu ở nữớc ngoài Đối với cơ sở lý luận về ODA ở nước ngoài, có các nghiên cứu sau: Các nghiên cứu về khái niệm ODA bao gồm các nghiên cứu như: Helmer Fuhrer (1996) với nghiên cứu: “A history of the development assitance committee and the development cooperation” - (Lich sử của Uy ban hỗ trợ phát triển chính thức và hợp tác phát triển) đã định nghĩa như sau: “Nguồn vốn phát triển chính thức (viết tắt là ODA) là nguồn vốn hỗ trợ đề tăng cường phát triển kinh tế và xã hội của các nước đang phát triển. Thành to hỗ trợ chiếm một khoảng xác định trong tài khoản này”. Có thê nói, khái niệm sơ khai này đã phân biệt ODA với các nguồn vốn đầu tư khác với hai đặc điểm chính: (i) Đây là khoản hỗ trợ phát triển chính thức; (ii) Có bao gồm thành tổ hỗ trợ.
Các nghiên cứu về sau như nghiên cứu của OECD (2012); OECD (2013) với “Development Assistance” - (Viện trợ phát triển) đã bố sung thêm khái niệm về ODA theo hướng lượng hóa tỷ lệ phần trăm thành tố hỗ trợ là 20 - 30% tùy thuộc vào nhà tài trợ và quốc gia nhận tài trợ. Tuy nhiên, qua thời gian, mục đích viện trợ cũng thay đổi, từ mục đích ban đầu là hàn gắn vết thương chiến tranh, sau này là trách nhiệm của các nước giàu giúp các nước nghèo dé phát triển kinh tế xã hội. Về đánh giá hiệu quả của ODA, một số nghiên cứu khác đưa ra các đánh giá hiệu quả của nguồn vốn ODA vào phát triển kinh tế xã hội nói chung ở các nước đang phát triển. Đối với quan điểm viện trợ có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế xã hội có những tác phẩm của các tác giả Chenery va Strout (1966) nghiên cứu về tác động của vốn ODA “Foreign Assistance and Economic Development” - (Viện trợ nước ngoài va phat triển kinh tế) cho rang vốn ODA có tác động tích cực tới sự phát triển kinh tế xã hội và khi tiếp nhận vốn ODA, các nước kém phát triển sẽ thu hẹp được khoảng cách giàu nghèo.
Theo Teboul và Moustier “Foreign Aid and economic growth” (2001) - (Viện trợ nước ngoài va tăng trưởng kinh tế) thì việc tiếp nhận viện trợ ODA giúp các nước kém phát triển gia tăng tiết kiệm, tăng trưởng GDP, phát triển kinh tế xã hội. Còn theo Sangkijjin “Revisting effects and strategies of official 12 development assistance” (2002) - (Xem xét các tác động và chiến lược của viện trợ phát triển chính thức) lập luận rằng khi mức độ minh bạch quốc gia đạt đến một trình độ nhất định, hiệu ứng cận biên ròng kinh tế của ODA cho các quốc gia giảm thì ODA sẽ tác động tích cực tới việc phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia nhận viện trợ. Dang chú ý là các nghiên cứu của: - Dollar& Craig (2000) “Aid, Policy, and Growth” - (Viện trợ, chính sách, sự tăng trưởng), The American Economic Review, Vol 90. Nghiên cứu này dựa trên việc sử dụng cơ sở dữ liệu mới về viện trợ nước ngoài nhằm xem xét các mối quan hệ giữa viện trợ nước ngoài, tăng trưởng GDP bình quân trên đầu người và các chính sách kinh tế.
Nghiên cứu đã cho thấy viện trợ có tác động tích cực đến tăng trưởng ở các nước đang phát triển có chính sách tốt trong các lĩnh vực tài khóa, tiền tệ, thương mại và tác động tiêu cực đối với các nước không có chính sách tốt. Đối với sự tăng trưởng, các chính sách quan trọng là những chính sách tốt, chất lượng của chính sách chỉ có tác động nhỏ đến việc phân bồ viện trợ. - Hansen & Tarp (2001), “Aid and Growth Regressions” - (Viện trợ và các hoi quy tang trưởng), Journal of Development Economics, 64, 547-570. Nghiên cứu nay xem xét mối quan hệ giữa viện trợ nước ngoai và tăng trưởng GDP thực tế trên đầu người.
Nghiên cứu chỉ ra răng viện trợ trong sẽ làm tăng tốc độ tăng trưởng và sự tăng trưởng không phụ thuộc vào chính sách tốt và lợi nhuận từ viện trợ giảm, hiệu quả ước tính của viện trợ nhạy cảm với việc lựa chọn công cụ ước tính và tập hợp các biến kiểm soát. Tác dụng tích cực của viện trợ không có khi đầu tư và nguồn nhân lực bị kiểm soát và viện trợ tác động đến tăng trưởng thông qua đầu tư. (2006) “Foreign Aid and Long-Run Economic Growth: Empirical Evidence for a Panel of Developing Countries” - (Viện trợ nước ngoài va tang trưởng kinh tế dài han: bang chứng thực nghiệm cho các nước dang phát triển), Journal of International Development. Nghiên cứu này xem xét viện trợ nước ngoài liệu có ảnh hưởng đáng ké đến tăng trưởng kinh tế ở các nước Liên minh Kinh tế và Tiền tệ Tây Phi) hay không.
Dựa trên việc sử dụng 2 loại dữ liệu viện trợ: viện trợ tổng hợp và viện trợ riêng dé chạy hai biến hồi quy khác nhau. Kết quả của hai phương pháp ước tính bên trong và giữa các thứ nguyên đều cho thấy tác động lâu dài của viện trợ đối 13 với tăng trưởng kinh tế là không đồng nhất giữa các lĩnh vực. Tác gia Sebastian Galiani và các cộng sự trong nghiên cứu “The effect of aid growth: Evidence from a Quasi-experiment” - (Hiệu qua tăng tưởng của viện trợ: Bằng chứng từ thử nghiệm Quasi) cho kết quả ước tính rằng mỗi 1% thu nhập của một quốc gia có được từ nguồn vốn viện trợ thì tốc độ hàng năm sẽ tăng thêm 1/3 điểm phần trăm trong ngắn hạn. Nghiên cứu của các tác giả này cho thấy viện trợ tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào những điều kiện khác nhau và cho rằng viện trợ chỉ đạt kết quả tích cực khi chính sách tài chính, tiền tệ thương mại được thực hiện tốt nhưng sẽ không phát huy tác dụng khi các nước nhận viện trợ có chính sách sử dụng ODA không tốt.
Kết quả nghiên cứu của Karras (2006) với “Foreign aid and Long - Run economic growth: Empirical Evidence for a Panel of Developing country” cũng cho rang viện trợ nước ngoài có tác động tích cực, lâu dài đến tăng trưởng kinh tế. Đối với quan điểm đánh giá ODA có tác động tiêu cực đến kinh tế xã hội chang hạn như tác giả Boonrne (1996) với bai “Politics and the effectiveness offoreign aid” - (Chính tri va hiệu quả của hỗ trợ nước ngoài), European Economic Review. Trong bài này, tác giả dự đoán về hiệu quả viện trợ dựa trên khung phân tích liên quan đến hiệu quả viện trợ đối với chế độ chính trị. Ông cho rằng viện trợ không làm tăng đáng kế đầu tu, cũng không mang lại lợi ích cho người nghèo như được đo bằng các cải thiện về chỉ số phát triển con người nhưng nó làm tăng quy mô của chính phủ.
Tác động của viện trợ không thay đổi tùy theo chính phủ của người nhận là dân chủ hay tự do hay chính phủ độc quyền chuyên chế. Tác gia Tun Li Moe “An imperical investigation of relationship between the official development assistance and human and educational development” (2012) - (Diéu tra thuc nghiém về mối quan hệ giữa viện trợ phát triển chính thức và sự phát triển của con người, giáo dục), đã phân tích tác động tích cực của nguồn vốn ODA trực tiếp đến sự phát triển giáo dục và con người., 2000 với tác phẩm “Aid instability as a measure of uncertainty and the positive impact of aid on growth” - (Viện trợ không én định khi là thước do của việc không chắc chắn và tác động tích cực của viện trợ đối với sự tăng trưởng) đã đưa ra quan điểm cho rằng tác động của nguồn vốn ODA 14 tới phát triển kinh tế xã hội của các nước đang phát triển là tiêu cực và không hiệu quả trong quá trình thực hiện nguồn vốn ODA của các nước đang phát triển là tiêu cực và không hiệu quả trong quá trình thực hiện nguồn vốn ODA của các nước nhận viện trợ. Bên cạnh hai quan điểm trên thì có những nghiên cứu có các kết quả không hoàn toàn ủng hộ hai quan điểm trên. Nghiên cứu của Adams và Atsu (2014) trong “Aid dependence and economic growth in Ghana” - (Sự phụ thuộc viện trợ và phát triển kinh tế ở Ghana), Economic Analysis and Policy, cho thấy viện trợ nước ngoài có những tác động tích cực trong ngắn hạn nhưng tiêu cực trong dài hạn.
Nghiên cứu của Museru và cộng sự (2014) với “The impact of aid and public investment volatilyty on economic growth in Sub - Sahara in Africa” - (Tác động của viện trợ và biến đôi dau tư công lên tăng trưởng kinh tế ở khu vực cận Sahara và Châu Phi) World Development, cho thay ODA tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế tiềm năng nhưng hiệu quả viện trợ có thé giảm bởi biến động trong đầu tư công. D (2015) với “Sustainable Urban Transport in the Developing World: Beyond Megacities” - (Giao thông đô thị bền vững trong thé giới đang phat triển: đăng sau các siêu đô thị) và Weisbrod (2008) với “Models to predict the economic development impact of transportation projects: Historical experience and new applications” - (Mô hình dy đoán phát triển kinh tế của các dự án giao thông: Kinh nghiệm lịch sử và các ứng dụng mới) thì hầu hết các nước Châu Âu xây dựng hệ thống giao thông vận tải công cộng đường bộ đô thị theo hướng đồng bộ, liên kết trong suốt và nhằm phục vụ cho mọi đối tượng bao gồm cả người khuyết tật và người cao tuổi. Những tiêu chí này cũng được Nhật Bản rất chú ý khi xây dựng phát triển cơ sở hạ tang giao thông vận tải trong đó có phát triển kết cấu hạ tang giao thông đường bộ. Cũng có rất nhiều các công trình nghiên cứu về vai trò và sự cần thiết của đường bộ cao tốc trong nền kinh tế.
Các tác giả như Isserman.A (1994) với “High way and rural economic development: results from a quasi - experimental approach ” - (Đường cao tốc và phát triển kinh tế nông thôn: kết quả từ cach yieeps cận thực nghệm) đề cao vai trò của phát triển đường cao tốc, coi đây như là phương tiện để phát triển kinh tế.G (1995) “Bussiness Losses, Transportation 15 Damage” - (Tôn thất kinh doanh, thiệt hại về giao thông vận tải) đã phân tích mối quan hệ giữa phát triển đường cao tốc với sản lượng kinh tế. Các công trình nghién cứu trong nước Đối với khái niệm về ODA, đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu trong nước cũng đưa ra các khái niệm, nguồn gốc về ODA.