chương 1. THỰC TRẠNG DẠY NGHỀ CHO NGƢỜI KHUYẾT TẬT TẠI HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG VÀ VAI TRÕ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG DẠY NGHỀ CHO NGƢỜI KHUYẾT TẬT. Khái quát về tình hình dạy nghề. 28 Footer Page 4 of 107.
Header Page 5 of 107. Tình hình dạy nghề trong cả nước .2 Tình hình dạy nghề cho người khuyết tật huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Hoạt động dạy nghề cho ngƣời khuyết tật tại huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang .1 Dạy nghề cho người khuyết tật vận động .2 Dạy nghề cho người khuyết tật ngôn ngữ, người khiếm thính.3 Dạy nghề cho người khuyết tật khiếm thị và khuyết tật trí tuệ .3 Đánh giá nhu cầu học nghề của ngƣời khuyết tật. Thuận lợi và khó khăn trong việc dạy nghề cho ngƣời khuyết tật 47 2.1 Những thuận lợi .2 Khó khăn trong dạy nghề cho người khuyết tật.
Vai trò của công tác xã hội trong dạy nghề cho ngƣời khuyết tật.1 Huy động các nguồn lực trong cộng đồng. Liên kết các trung tâm dạy nghề và các doanh nghiệp. Tư vấn chương trình dạy nghề. 64 Tiểu kết chương 2.
68 Chƣơng 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY NGHỀ CHO NGƢỜI KHUYẾT TẠI HUYỆN LẠNG GIANG. Một số mô hình dạy nghề cho ngƣời khuyết tật. Dạy nghề gắn với tạo việc làm. Dạy nghề ngắn hạn.
Một số kinh nghiệm về hoạt động dạy nghề cho người khuyết tật 75 3. Nâng cao chất lƣợng đội ngũ giáo viên dạy nghề cho ngƣời khuyết tật.3 Đầu tƣ cơ sở vật chất cho hoạt động dạy nghề. Phát huy vai trò của nhân viên công tác xã hội trong dạy nghề cho ngƣời khuyết tật. 86 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
89 Footer Page 5 of 107. Header Page 6 of 107. Lý do chọn đề tài NKT từ lâu đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học. Trong y học, sức khỏe cộng đồng, thông tin điện tử, thiết kế kỹ thuật, NKT được quan tâm dưới góc độ làm giảm bớt ảnh hưởng của dạng tật để cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của họ bớt khó khăn hơn.
Trong các ngành xã hội học, CTXH, NKT được hướng đến như những đối tượng yếu thế trong xã hội cần được hỗ trợ để hòa nhập cộng đồng. Theo Báo cáo của Bộ Lao động – Thương binh và xã hội hiện nay Việt Nam có 6,7 triệu NKT, khoảng 60 % NKT trong độ tuổi lao động. NKT nữ là 3,6 triệu người, khoảng 1,2 triệu là trẻ em, hơn 5 triệu người sống ở nông thôn [38, tr1]. Nhiều NKT không có việc làm, thu nhập, sống bằng trợ cấp xã hội và gia đình.
Dạy nghề cho NKT là vấn đề nhận được sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong nhiều năm qua. Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều chủ chương chính sách đào tạo nghề và tạo việc làm cho NKT giúp họ có được công việc tăng thêm thu nhập cho bản thân, xóa bỏ mặc cảm tự ti để hòa nhập vào cộng đồng xã hội. Những chính sách chủ chương đó đã được thể bằng pháp luật. Tuy nhiên, trong nhiều năm qua việc áp dụng các chính sách pháp luật vào trong thực tiễn đời sống vẫn chưa có sự đồng bộ, khả thi và hiệu quả.
Điều này dẫn tới giữa lý luận và thực tiễn thiếu khách quan, chưa phù hợp. Trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh còn e dè khi nhận NKT vào làm việc mặc dù NKTcó thể làm công việc đó tốt. Giải quyết được vấn đề việc làm cho NKT sẽ phát huy được nhân tố con người, phát triển kinh tế, ổn định xã hội, đảm bảo được quyền cơ bản của con người, quyền được lao động và hòa nhập cộng đồng và các quyền lợi chính đáng khác của NKT. Chính vì vậy, đặt ra yêu cầu phải đào tạo được NKT có những thế mạnh riêng chuyên về làm những công việc phù hợp với bản thân họ.
Việc phát hiện những ưu điểm riêng của từng người và đào tạo việc làm cho họ là rất khó khăn, sau đó 1 Footer Page 6 of 107. Header Page 7 of 107. cần phải liên kết huy động tất cả các nguồn lực để tạo việc làm cho NKT không đơn giản, đòi hỏi người cán bộ phụ trách phải có tấm lòng yêu nghề và tinh thần trách nhiệm cao. Xuất phát từ thực trạng trên tôi chọn đề tài: “ Hỗ trợ dạy nghề cho NKT huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang” làm đề tài nghiên cứu của mình.
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung và các chính sách, quy định pháp luật hiện hành cho NKT, luận văn làm rõ thực trạng hỗ trợ dạy nghề cho NKT trên địa bàn huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, từ đó đưa ra các mô hình can thiệp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động dạy nghề cho NKT. Tổng quan về tình hình nghiên cứu Việc nghiên cứu về NKT nói chung, dạy nghề đối với NKT nói riêng đã được đề cập trong nghiên cứu khoa học xã hội, chủ đề về NKT cũng được báo chí đặc biệt quan tâm. Có thể kể ra những nghiên cứu liên quan đến NKT như: Nghiên cứu nước ngoài: Disability and social inclusion in Ieland, Brenda Gannon and Brian Nolan, 2011 (khuyết tật hoà nhập xã hội ở Ieland, Brenda Gannon and Brian Nolan, 2011). Nghiên cứu đã xem xét NKT có hoàn cảnh khó khăn khi hoà nhập xã hội, trong nghiên cứu đã thu thập trình độ học vấn, kinh tế và tham gia xã hội…Đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra mặc cảm tự ti là một trong những yếu tố cản trở NKT tham gia hoà nhập xã hội và cuộc sống hàng ngày.
Báo cáo còn chỉ ra sự khác biệt giữa NKT và người bình thường trong việc tham gia hoà nhập cộng đồng. Thông qua việc thống kê các số liệu thu thập được để đánh giá mức độ nghèo, sự tham gia vào giáo dục, y tế, việc làm… của NKT. Nghiên cứu còn nhấn mạnh tới yếu tố NKT ảnh hưởng tới đời sống của mình, thiết kế nơi làm việc không phù hợp, sự kỳ thị của cộng đồng, sự tiếp cận các phương tiện đi lại gây khó khăn cho NKT… Giáo trình công tác xã hội với người khuyết tật, (2014) Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội-Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.
Giáo trình đã khái quát những vấn đề cơ bản về NKT và nêu nên các loai hình chăm sóc trợ giúp 2 Footer Page 7 of 107. Header Page 8 of 107. NKT và vai trò của NV CTXH với NKT. Giáo trình còn đề cập đến những kỹ năng, nguyên tắc cần thiết của một NV CTXH khi làm việc với NKT.
Về hướng thực hành, giáo trình nêu các phương pháp làm việc cá nhân, làm việc nhóm, làm việc với gia đình, cũng như các nguồn lực trong quá trình trợ giúp NKT. Tiến sĩ Nguyễn Tiến Dũng (2011) “Phát triển Dạy nghề đáp ứng nhu cầu trong giai đoạn mới”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, (số 4). Bài báo chỉ ra yêu cầu cần phải đào tạo nghề trong giai đoạn hiện nay, không chỉ đào tạo nghề đòi hỏi lượng chất xám cao mà còn phải đào tạo những nghề giản đơn nhằm đáp ứng xu thế hội nhập với khu vực và quốc tế, để tạo ra những sản phẩm tốt nhất đáp ứng với nhu cầu thị trường. Tổ chức Lao động quốc tế (2010) “Báo cáo khảo sát về đào tạo nghề và việc làm cho NKT tại Việt Nam”.
Báo cáo cung cấp một cách nhìn tổng thể về các tổ chức đại diện cho NKT và các dịch vụ đào tạo nghề, việc làm và phát triển doanh nghiệp cho NKT, đặc biệt tập trung vào các tổ chức của phụ nữ khuyết tật và các dịch vụ dành riêng cho phụ nữ khuyết tật. Báo cáo cũng phân tích kết quả khảo sát NKT ít được đào tạo nghề, hướng dẫn về việc làm cũng như phát triển doanh nghiệp. Rất nhiều tổ chức trong và ngoài nước cũng nhận thấy việc đào tạo nghề và các dịch vụ bố trí việc làm cho NKT là rất quan trọng. Vì vậy, báo cáo đề xuất Chính phủ cần có những chính sách riêng khuyến khích các đào tạo nghề cho NKT.
Báo cáo cũng nêu lên thực trạng hiện nay cũng có một số Trung tâm dạy nghề dành riêng cho NKT được thành lập, nhưng chỉ phục vụ các khu vực thành thị, các vùng nông thôn việc tiếp cận đào tạo nghề rất bị hạn chế. Các dịch vụ bố trí việc làm thường gắn liền với cơ sở đào tạo nghề. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp kiếm được việc làm sau đào tạo còn khá thấp và phần lớn những học viên tốt nghiệp chủ yếu tìm được việc làm tại các cơ sở dành riêng cho NKT chứ không phải các doanh nghiệp thông thường. 3 Footer Page 8 of 107.
Header Page 9 of 107. Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Người khuyết tật ở Việt Nam: sinh kế, việc làm và bảo trợ xã hội” diễn ra ngày 27/09/2007 do Trung tâm Nghiên cứu Châu Á – Thái Bình Dương (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc Gia Hà Nội) phối hợp với Trung tâm hợp tác Quốc Tế (Đại học Osaka và Đại học Ochanomizu, Nhật Bản) tổ chức tại Trung tâm thư viện trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn bao gồm nhiều tham luận liên quan đến NKT. 20 tham luận của các nhà khoa học, nhà hoạt động từ thiện, xã hội trong và ngoài nước được trình bày tại hội thảo đều hướng vào vấn đề tìm giải pháp hỗ trợ hiệu quả cho NKT hòa nhập cộng đồng, đào tạo việc làm và hỗ trợ việc làm ổn định đời sống có đóng góp cho xã hội, lý giải cho cách dùng khái niệm “NKT” thay thế cho khái niệm “người tàn tật”.S Mai Thị Phương (2014), Đề tài “Vấn đề CTXH với NKT”. Đề tài đã nêu lên vai trò của công tác xã hội đối với NKT trên tất cả các phương diện, đặc biệt là vấn đề dạy nghề và tìm việc làm.
Đề tài viết về những tồn tại yếu kém trong công tác dạy nghề cho NKT ở nước ta. Nội dung, chương trình, nghề đào tạo, hình thức đào tạo chưa hợp lý về kết cấu, quá nặng về lý thuyết, thiếu thực hành, chưa có những giáo trình và các thiết bị dạy nghề dành riêng cho NKT, đội ngũ giáo viên dạy nghề cho NKT còn yếu cả về kiến thức, kỹ năng và nhận thức về các lĩnh vực sư phạm và quản lý. Đồng thời việc thực hiện chính sách về việc làm với NKT chưa nghiêm, hoạt động kiểm tra giám sát chưa thường xuyên, vì vậy NKT chịu nhiều thiệt thòi trong việc tiếp cận dạy nghề và việc làm.