Tổng quan nghiên cứu

Thị trường nông sản và sản phẩm thủ công truyền thống tại khu vực miền núi phía Bắc đang chứng kiến sự chuyển mình mạnh mẽ nhờ Chương trình Mỗi xã, phường một sản phẩm (OCOP). Tỉnh Lào Cai là địa bàn giàu tiềm năng với khoảng 222 sản phẩm nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp lợi thế. Sau hơn 3 năm triển khai quyết liệt theo các định hướng của Trung ương và địa phương, toàn tỉnh đã có 120 sản phẩm được công nhận đạt từ 3 đến 4 sao OCOP. Sự tham gia tích cực của cộng đồng doanh nghiệp và hợp tác xã đã hình thành mạng lưới liên kết sản xuất nguyên liệu bền vững với khoảng 10.000 hộ nông dân, mở ra cơ hội xóa đói giảm nghèo và tạo việc làm ổn định cho đồng bào các dân tộc thiểu số.

Mặc dù đạt được những bước tiến quan trọng về quy mô số lượng sản phẩm, khâu tiêu thụ vẫn là điểm nghẽn lớn nhất trong chu kỳ sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế tại Lào Cai. Phần lớn sản phẩm OCOP vẫn chủ yếu tiêu thụ nội tỉnh, hình thức quảng bá xúc tiến thương mại còn đơn điệu và mạng lưới phân phối hiện đại chưa được mở rộng. Thêm vào đó, tác động tiêu cực từ dịch Covid-19 trong giai đoạn 2020 - 2021 đã làm đứt gãy chuỗi cung ứng, bộc lộ rõ sự yếu kém về năng lực tiếp cận kênh bán hàng trực tuyến của các chủ thể sản xuất.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của học viên Bùi Văn Tiến tập trung nghiên cứu hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm OCOP trên địa bàn tỉnh Lào Cai. Luận văn sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ giai đoạn 2018 - 2020 kết hợp khảo sát thực tế năm 2021 để đánh giá khách quan các nhân tố ảnh hưởng. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp các chỉ số đo lường cụ thể về mức độ tiếp cận chính sách, hiệu quả phân phối và đề xuất giải pháp đồng bộ nhằm gia tăng doanh thu, nâng cao năng lực cạnh tranh cho nông sản vùng cao.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp hài hòa giữa các lý thuyết kinh tế hiện đại và mô hình phát triển cộng đồng đã được kiểm chứng trên thế giới. Trọng tâm là mô hình Mỗi làng một sản phẩm (OVOP), khởi xướng từ năm 1979 tại tỉnh Oita, Nhật Bản bởi Thống đốc Morihiko Hiramatsu. Mô hình khẳng định nguyên lý phát triển nội lực dựa trên các giá trị văn hóa và đặc sản bản địa để tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao, hạn chế di dân tự do từ nông thôn ra thành thị. Khi được thể chế hóa thành chương trình OCOP tại Việt Nam, nhà nước đóng vai trò kiến tạo thể chế, trong khi doanh nghiệp và người dân giữ vai trò trung tâm trong chuỗi giá trị.

Bên cạnh đó, luận văn vận dụng lý thuyết Marketing-mix (4P) bao gồm chính sách sản phẩm, chính sách giá, chính sách phân phối và chính sách xúc tiến hỗn hợp để làm rõ cơ chế hỗ trợ tiêu thụ. Luận văn tiếp cận quan điểm chính sách công của Althaus, Bridgman và Davis để phân tích công cụ can thiệp của chính quyền địa phương vào quá trình lưu thông hàng hóa. Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa trong nghiên cứu gồm chính sách hỗ trợ tiêu thụ, đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ, nhãn hiệu chứng nhận và chỉ dẫn địa lý hàng hóa.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2018 - 2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công Thương và Văn phòng Điều phối Nông thôn mới. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua đợt khảo sát thực địa thực hiện vào năm 2021.

Quy mô mẫu khảo sát được thực hiện theo phương pháp điều tra toàn bộ (census) đối với hai nhóm đối tượng mục tiêu:

  • Nhóm cán bộ quản lý: Điều tra toàn bộ 53 cán bộ chuyên trách thực hiện chương trình OCOP thuộc cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã.
  • Nhóm chủ thể sản xuất kinh doanh: Khảo sát toàn diện 69 doanh nghiệp và hợp tác xã đang trực tiếp tham gia chuỗi cung ứng sản phẩm OCOP trên địa bàn tỉnh Lào Cai.

Phương pháp điều tra toàn bộ được lựa chọn vì tổng thể đối tượng nghiên cứu có quy mô hữu hạn, tập trung và nắm giữ đầy đủ thông tin thực chứng. Điều này giúp loại bỏ sai số chọn mẫu, đảm bảo tính đại diện và phản ánh chính xác thực trạng quản lý kinh tế địa phương. Dữ liệu sau khi thu thập được làm sạch, mã hóa và phân tích thông qua phương pháp thống kê mô tả (số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân), phân tích so sánh liên kỳ và thang đo khoảng cách Likert 5 mức độ để định lượng sự hài lòng đối với các chính sách hỗ trợ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tiễn mang lại những phát hiện quan trọng về bức tranh sản xuất và thương mại hóa sản phẩm OCOP tại tỉnh Lào Cai:

Thứ nhất, cơ cấu sản phẩm OCOP có sự mất cân đối rõ rệt giữa các nhóm ngành hàng. Trong tổng số 222 sản phẩm lợi thế nông thôn được điều tra, nhóm thực phẩm chiếm tỷ trọng áp đảo với 115 sản phẩm (chiếm 52,0%), tiếp đến là nhóm đồ uống với 36 sản phẩm (chiếm 16,2%), nhóm thảo dược có 28 sản phẩm (chiếm 12,6%), nhóm dịch vụ du lịch nông thôn đạt 22 sản phẩm (chiếm 9,9%), vải may mặc có 12 sản phẩm (chiếm 5,4%) và nhóm lưu niệm, nội thất chiếm 9 sản phẩm (chiếm 4,1%).

Thứ hai, các doanh nghiệp và hợp tác xã đã thiết lập được mạng lưới liên kết cung ứng nguyên liệu quy mô lớn với khoảng 10.000 hộ nông dân. Cụ thể, vùng sản xuất chè quy tụ hơn 4.900 ha với 6.000 hộ gia đình tham gia; vùng sản xuất gạo đặc sản Séng Cù liên kết 1.200 hộ dân canh tác trên diện tích 400 ha; vùng nguyên liệu tương ớt Mường Khương phát triển trên 120 ha với 755 hộ cung ứng ổn định.

Thứ ba, chính sách hỗ trợ tài chính trực tiếp bước đầu tạo đòn bẩy kích thích sản xuất. Căn cứ Quyết định 2997/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai, định mức tiền thưởng trực tiếp cho mỗi sản phẩm đạt hạng 3 sao là 15 triệu đồng, hạng 4 sao là 30 triệu đồng và hạng 5 sao cấp quốc gia là 80 triệu đồng. Riêng trong đợt đánh giá năm 2021, tỉnh đã công nhận 22 sản phẩm đạt hạng 3 sao và 4 sao của 17 doanh nghiệp, hợp tác xã (trong đó có bưởi Múc Thái Niên đạt 4 sao; chè Bát Tiên Hướng Tâm, cốm Na Lo, tinh dầu quế Nậm Đét đạt 3 sao).

Thứ tư, công tác xúc tiến thương mại truyền thống đạt nhiều kết quả nổi bật nhưng kênh thương mại điện tử còn hạn chế. Tỉnh đã tổ chức cho các chủ thể tham gia quảng bá tại 14 hội chợ triển lãm trong và ngoài nước. Điển hình như Hội chợ Nông nghiệp và các sản phẩm khu vực phía Bắc năm 2020 tổ chức tại Lào Cai thu hút 180 doanh nghiệp với quy mô hơn 300 gian hàng. Tuy nhiên, việc vận hành bán hàng trên sàn thương mại điện tử Postmart và các nền tảng số chỉ mới dừng ở mức thí điểm, tỷ lệ phát sinh đơn hàng trực tuyến thường xuyên chỉ đạt khoảng 15% tổng lượng tiêu thụ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản khiến việc tiêu thụ sản phẩm OCOP Lào Cai gặp trở ngại xuất phát từ điều kiện tự nhiên và hạ tầng logistics. Tỉnh có địa hình núi cao hiểm trở với hơn 80% diện tích đất tự nhiên có độ dốc trên 25 độ, gây chia cắt không gian sản xuất và làm đội chi phí vận chuyển lên cao từ 20% đến 30% so với vùng đồng bằng. Trình độ chuyên môn của đội ngũ quản trị tại 69 doanh nghiệp và hợp tác xã còn nhiều bất cập, đặc biệt là sự thiếu hụt nhân sự am hiểu tiếp thị kỹ thuật số và quản lý chuỗi cung ứng hiện đại.

Khi so sánh với kinh nghiệm của tỉnh Quảng Ninh (nơi phát triển thành công 449 sản phẩm OCOP thuộc 175 tổ chức, tạo doanh thu ổn định từ 400 đến 500 tỷ đồng mỗi năm, xây dựng được 29 trung tâm bán lẻ OCOP và tổ chức 9 kỳ hội chợ thường niên với doanh thu bình quân 12 đến 15 tỷ đồng mỗi kỳ), có thể thấy Lào Cai chưa khai thác tối đa lợi thế 203,5 km đường biên giới giáp thị trường Vân Nam - Trung Quốc và các trung tâm du lịch lớn như Sa Pa hay Bắc Hà. Mô hình chuỗi cửa hàng OCOP chuyên biệt tại Lào Cai vẫn còn thiếu vắng sự đồng bộ.

Trong các báo cáo quản lý kinh tế, việc biểu diễn số liệu bằng biểu đồ cột thể hiện tương quan số hộ liên kết giữa các ngành hàng (như chè 6.000 hộ so với lúa Séng Cù 1.200 hộ) kết hợp biểu đồ tròn phân bổ 6 nhóm ngành lợi thế sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách nhận diện nhanh chóng những mặt hàng cần ưu tiên nguồn lực xúc tiến đầu tư.

Đề xuất và khuyến nghị

Căn cứ vào kết quả nghiên cứu thực chứng, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm tháo gỡ điểm nghẽn tiêu thụ sản phẩm OCOP tỉnh Lào Cai:

Thứ nhất, xây dựng chiến lược truyền thông và quảng bá thương hiệu OCOP đa kênh. Sở Công Thương chủ trì phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông thiết lập cổng dữ liệu số hóa sản phẩm OCOP, tích hợp mã QR truy xuất nguồn gốc cho 100% sản phẩm đạt hạng 3 sao trở lên. Mục tiêu giai đoạn 2022 - 2025 là đưa tối thiểu 85% sản phẩm OCOP chủ lực hiện diện và kinh doanh ổn định trên các sàn thương mại điện tử lớn trong nước.

Thứ hai, mở rộng mạng lưới điểm bán và trung tâm giới thiệu sản phẩm đặc sản. Ủy ban nhân dân tỉnh giao Sở Công Thương chủ trì phối hợp cùng các huyện, thị xã quy hoạch và xây dựng ít nhất 10 điểm trưng bày, phân phối sản phẩm OCOP đạt chuẩn tại thành phố Lào Cai, thị xã Sa Pa và huyện Bắc Hà đến hết quý IV năm 2024. Đồng thời, chủ động đàm phán đưa tối thiểu 25 dòng sản phẩm OCOP vào kệ hàng của các chuỗi siêu thị bán lẻ lớn trên toàn quốc.

Thứ ba, hoàn thiện cơ chế tài chính hỗ trợ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và mẫu mã bao bì. Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn duy trì cơ chế chi trả tiền thưởng 15 triệu, 30 triệu và 80 triệu đồng theo từng thứ hạng sao. Bổ sung gói hỗ trợ kinh phí trực tiếp tối đa 50 triệu đồng cho mỗi doanh nghiệp để đổi mới bao bì, chuẩn hóa kiểu dáng công nghiệp và đăng ký văn bằng bảo hộ nhãn hiệu tập thể, chỉ dẫn địa lý hoàn thành trước năm 2025.

Thứ tư, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực xúc tiến thương mại. Liên minh Hợp tác xã tỉnh phối hợp với Trung tâm Khuyến công tổ chức định kỳ 12 khóa tập huấn chuyên sâu hàng năm cho lãnh đạo 69 doanh nghiệp và hợp tác xã OCOP. Nội dung đào tạo tập trung vào kỹ năng tiếp thị số, phương thức livestream bán hàng nông sản và quản lý tài chính chuỗi phân phối trong bối cảnh chuyển đổi số kinh tế nông thôn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang giá trị ứng dụng cao đối với 4 nhóm đối tượng cụ thể:

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương, bao gồm Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công Thương và Văn phòng Điều phối Nông thôn mới. Báo cáo cung cấp căn cứ thực tiễn từ kết quả khảo sát 53 cán bộ để điều chỉnh các quyết định quản lý, tối ưu hóa quy trình phân bổ ngân sách xúc tiến thương mại cho giai đoạn tiếp theo.

Nhóm thứ hai là ban lãnh đạo 69 doanh nghiệp, hợp tác xã và các hộ kinh doanh cá thể sản xuất nông sản. Tài liệu này là cẩm nang giúp các chủ thể nắm rõ quy trình đánh giá phân hạng sao, cách thức tiếp cận gói hỗ trợ tài chính từ 15 đến 80 triệu đồng của tỉnh và phương pháp tái cơ cấu kênh bán hàng thích ứng với thị trường.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển và Nông nghiệp nông thôn. Luận văn cung cấp khung phân tích thực chứng phong phú, kết hợp giữa lý thuyết Marketing-mix với mô hình liên kết 10.000 hộ nông dân vùng cao làm tài liệu giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu.

Nhóm thứ tư là các tổ chức quốc tế, quỹ hỗ trợ phát triển nông nghiệp và các ngân hàng thương mại. Dữ liệu khảo sát chi tiết trong luận văn đóng vai trò là tài liệu tham chiếu tin cậy để thẩm định rủi ro tín dụng và xây dựng các chương trình tài trợ chuỗi giá trị nông sản tại vùng trung du miền núi phía Bắc.

Câu hỏi thường gặp

Kết quả đánh giá và xếp hạng sản phẩm OCOP tại tỉnh Lào Cai đạt được quy mô như thế nào? Sau hơn 3 năm triển khai, Lào Cai đã rà soát 222 sản phẩm thế mạnh và công nhận chính thức 120 sản phẩm đạt từ 3 đến 4 sao OCOP. Riêng trong năm 2021, có 22 sản phẩm mới của 17 doanh nghiệp và hợp tác xã được cấp sao chứng nhận, tiêu biểu như bưởi Múc Thái Niên đạt 4 sao và tinh dầu quế Nậm Đét đạt 3 sao.

Vai trò của doanh nghiệp và hợp tác xã trong chuỗi giá trị OCOP Lào Cai được thể hiện ra sao? Cộng đồng 69 doanh nghiệp và hợp tác xã giữ vai trò hạt nhân tổ chức sản xuất và kết nối thị trường. Các đơn vị này đã xây dựng chuỗi liên kết bền vững với khoảng 10.000 hộ nông dân vùng cao, nổi bật là vùng nguyên liệu chè với 6.000 hộ trên 4.900 ha và vùng lúa Séng Cù với 1.200 hộ trên 400 ha.

Mức chi thưởng tài chính trực tiếp cho các sản phẩm OCOP đạt chứng nhận sao tại Lào Cai là bao nhiêu? Theo quyết định phê duyệt của Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai, mức hỗ trợ tài chính bằng tiền thưởng được thực hiện công khai: sản phẩm đạt 3 sao được thưởng 15 triệu đồng, sản phẩm đạt 4 sao nhận mức thưởng 30 triệu đồng và sản phẩm đạt chuẩn 5 sao cấp quốc gia được thưởng 80 triệu đồng.

Địa hình tự nhiên gây khó khăn gì cho quá trình tiêu thụ sản phẩm OCOP tại tỉnh Lào Cai? Tỉnh có địa hình chia cắt mạnh với hơn 80% diện tích đất tự nhiên có độ dốc trên 25 độ và cao độ trải dài từ 80 mét đến 3.143 mét. Đặc điểm hiểm trở này khiến chi phí vận chuyển hàng hóa tăng từ 20% đến 30%, đồng thời làm phân tán vùng nguyên liệu và cản trở việc kết nối giao thương nhanh chóng.

Bài học kinh nghiệm tiêu biểu nhất mà Lào Cai có thể học tập từ tỉnh Quảng Ninh là gì? Lào Cai cần học tập Quảng Ninh trong việc phát triển hệ sinh thái phân phối đồng bộ với 29 trung tâm bán hàng OCOP chuyên nghiệp. Đồng thời, tỉnh cần kết hợp chuỗi sự kiện hội chợ thường niên tạo doanh thu từ 12 đến 15 tỷ đồng mỗi kỳ với các tour du lịch trải nghiệm làng nghề để kích cầu tiêu thụ tại chỗ.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận về chính sách hỗ trợ tiêu thụ nông sản, tích hợp thành công mô hình Mỗi làng một sản phẩm (OVOP 1979) với khung phân tích Marketing-mix (4P) và lý thuyết can thiệp chính sách công.
  • Phản ánh trung thực bức tranh thực tiễn với 120 sản phẩm OCOP đạt 3 - 4 sao trên địa bàn tỉnh Lào Cai, gắn kết chặt chẽ với sinh kế của hơn 10.000 hộ đồng bào miền núi thông qua mạng lưới 69 doanh nghiệp và hợp tác xã.
  • Nhận diện chính xác điểm nghẽn địa lý tự nhiên với 80% diện tích có độ dốc trên 25 độ, chi phí vận chuyển cao và sự chậm chân trong việc chuyển đổi kênh bán hàng số là những rào cản lớn nhất đối với việc mở rộng thị trường.
  • Đề xuất lộ trình 4 giải pháp chiến lược khả thi giai đoạn 2022 - 2025, tập trung vào số hóa thương mại điện tử, phát triển 10 điểm bán hàng chuẩn hóa, tài trợ nhãn hiệu và nâng cao kỹ năng xúc tiến cho các chủ thể kinh tế.
  • Khẳng định giá trị thực tiễn và tính cấp thiết trong việc đồng bộ hóa chính sách công giữa các cấp quản lý, kêu gọi sự liên kết chặt chẽ giữa nhà nước, doanh nghiệp và nông dân nhằm đưa nông sản OCOP Lào Cai vươn xa ra thị trường cả nước.