CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ 1. Khái niệm, đặc điểm vai trò của pháp luật bảo vệ môi trường đô thị 1. Khái niệm bảo vệ môi trường đô thị Trước tiên, để đưa ra được một khái niệm hoàn chỉnh về BVMTĐT, cần tìm hiểu thế nào là "môi trường" và "đô thị". Nhiều tài liệu, giáo trình đã đề cập đến khái niệm "môi trường".
Môi trường chính là các yếu tố tồn tại và tương tác với những hệ thống sinh thái và con người trong không gian sống của chúng ta. Mỗi vật thể và sự kiện đều tồn tại trong một môi trường. Khái niệm về môi trường được áp dụng cho từng đối tượng và mục đích của nghiên cứu. Môi trường là "toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên và xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ với con người hay sinh vật ấy" [9], hoặc môi trường là "thế giới tự nhiên, nơi con người, động vật và thực vật sinh sống" [31].
Trong khoa học pháp lý, "môi trường" được định nghĩa tại Khoản 1 Điều 3 Luật BVMT năm 2020 bao gồm những yếu tố vật chất tự nhiên và vật chất nhân tạo, có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người và có ảnh hưởng đến những vấn đề như: đời sống, kinh tế, xã hội, sự tồn tại và phát triển của con người, sinh vật, tự nhiên. Môi trường sống như một bức tranh đa chiều, được tô điểm bởi vô số yếu tố vật chất. Nổi bật trong bức tranh ấy là các mảng màu của: đất đai, nước, bầu không khí, ánh sáng, âm thanh của thiên nhiên, cùng hệ sinh thái động thực vật phong phú. Những "nét vẽ" tự nhiên này, được hình thành và phát triển theo quy luật riêng biệt, nằm ngoài tầm kiểm soát của con người, tạo nên nền tảng cơ bản cho bức tranh môi trường.
Con người chỉ có thể tác động đến môi trường sống này trong một chừng mực nào đó. Tuy vậy, môi trường không chỉ đơn thuần là sự sắp đặt của tự nhiên. Con người, với trí tuệ và bàn tay sáng tạo, đã bổ sung các "nét vẽ" nhân tạo trong bức tranh môi trường. Đó là những hệ thống đê điều kiên cố, những 8 công trình nghệ thuật tráng lệ, những công trình kiến trúc văn hóa độc đáo, được lưu truyền qua bao thế hệ.
Những "nét vẽ" này thể hiện sự tác động của con người lên môi trường tự nhiên, nhằm phục vụ nhu cầu ngày càng cao của bản thân. Môi trường ảnh hưởng đến cuộc sống của con người và sự phát triển của xã hội nói chung. Con người, sự phát triển và môi trường có mối liên hệ mật thiết với nhau. Môi trường cũng có thể mang đến những mối đe dọa như ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước, hóa chất độc hại…là một phần trong số những mối đe dọa đối với nhân loại mà môi trường ẩn chứa.
"Đô thị" thông thường được hiểu là khu vực tập trung đông dân cư, trong đó, dân cư chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ. "Đô thị được hiểu là nơi tập trung dân cư đông đúc, là trung tâm của một vùng lãnh thổ với hoạt động kinh tế chủ yếu là công nghiệp và dịch vụ" [8]. Khoản 1 Điều 3 Luật quy hoạch đô thị năm 2009 hiểu "Đô thị" là "khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn". So với khu vực nông thôn, đô thị có mật độ dân số cao hơn, sở hữu hệ thống hạ tầng kỹ thuật hiện đại.
Nền kinh tế đô thị phát triển mạnh mẽ với nhiều ngành nghề khác nhau, tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người dân. Ngoài ra, đô thị thường là trung tâm văn hóa, chính trị, xã hội của một địa phương, khu vực, là nơi diễn ra các hoạt động quan trọng như triển lãm, hội nghị, lễ hội… Đô thị có các đặc điểm sau: cấu trúc hoàn chỉnh, đồng bộ; luôn luôn phát triển và sự vận động của đô thị có thể điều khiển được [5]. Tại Việt Nam, theo quy định tại Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13 ngày 25 tháng 5 năm 2016 về phân loại đô thị của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, hiện nay có 6 loại đô thị, được phân loại dựa trên cơ sở Chương trình phát triển đô thị quốc gia, Chương trình phát triển đô thị các tỉnh, Chương trình phát triển từng đô thị, vị 9 trí, chức năng, vai trò, cơ cấu, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, quy mô dân số, mật độ dân số, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp, trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị, gồm: đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I, đô thị loại II, đô thị loại III, đô thị loại IV, đô thị loại V [32]. Từ việc tìm hiểu khái niệm "môi trường" và "đô thị", có thể hiểu "môi trường đô thị" là tổng thể các yếu tố tự nhiên, nhân tạo, xã hội bao quanh con người trong khu vực đô thị, là một loại hình thái của môi trường nói chung nếu xét theo góc độ khu vực tồn tại của môi trường ấy.
Nguyễn Trọng Phượng thì "môi trường đô thị" được coi là một bộ phận của môi trường, những yếu tố môi trường được hình thành nên trong không gian đô thị đều thuộc môi trường đô thị. Về cấu trúc, môi trường đô thị sẽ bao gồm "môi trường thiên nhiên bên ngoài bao quanh đô thị (nước, không khí, đất, động thực vật…) tất cả những gì tạo nên cấu trúc vật thể đô thị, bắt đầu từ khoảng không gian bên trong đến khu đất rộng lớn khu dân cư, khu công nghiệp, khu vui chơi giải trí…của đô thị. Ngoài ra môi trường đô thị còn bao gồm cả những yếu tố nhân văn đa dạng, phát sinh do hoạt động của con người như tiếng ồn, điện từ trường, rung động…" [31]. Một số học giả nước ngoài thì cho rằng "môi trường đô thị" được hình thành từ ba yếu tố "môi trường xã hội, môi trường vật chất và cơ sở hạ tầng tài nguyên đô thị" [36].
Như vậy, môi trường đô thị chính là môi trường sống của con người tại đô thị, bao gồm thành phần tự nhiên, thành phần nhân tạo và thành phần xã hội của đô thị. Thành phần tự nhiên của môi trường đô thị chính là tổng thể các yếu tố tự nhiên bao quanh con người, không là sản phẩm do con người tạo ra, đó là: môi trường không khí, môi trường nước, đất đai, sinh vật, khí hậu, năng lượng mặt trời. Các thành phần tự nhiên của môi trường đô thị có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của xã hội loài người trong việc cung cấp điều kiện sinh sống và tồn tại, bảo vệ con người khỏi những tác động không tốt của tự nhiên, cung cấp nguồn tài nguyên thiên nhiên để tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế - xã hội. 10 Bên cạnh thành phần tự nhiên, thành phần nhân tạo là thành phần đặc biệt quan trọng của môi trường đô thị.
Môi trường nhân tạo chính là tổng thể các sản phẩm trí tuệ của con người tạo ra để phục vụ nhu cầu sản xuất, sinh hoạt và tồn tại, bao gồm: các công trình kiến trúc (nhà ở, trường học, bệnh viện, cầu cống, khu phố, chung cư…); hệ thống hạ tầng cơ sở vật chất kỹ thuật (hệ thống điện, nước, thông tin liên lạc…); hệ thống các công trình giao thông (đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không,…); các cơ sở sản xuất công nghiệp (nhà máy, xí nghiệp, khu chế xuất,…). Các thành phần nhân tạo của môi trường đô thị có mối liên quan mật thiết với thành phần tự nhiên và ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống của con người và sự tồn tại của thành phần này có tác động rất lớn đến sự phát triển của đô thị. Thành phần xã hội của môi trường đô thị là các yếu tố xã hội bao quanh con người trong đô thị như dân số, các hoạt động kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế…Những yếu tố này tác động đến chất lượng cuộc sống của người dân đô thị. BVMTĐT đang trở thành một trong những nhiệm vụ chính của thế giới hiện đại.
Tại đô thị, một mặt, con người tạo ra các điều kiện để nâng cao chất lượng cuộc sống và đáp ứng nhiều nhu cầu khác nhau về xã hội, văn hóa, nhu cầu hàng ngày, phục vụ hoạt động sản xuất…, mặt khác, chính những sản phẩm do con người tạo ra đã và đang là nguồn gây ô nhiễm môi trường, tạo áp lực nghiêm trọng đến môi trường tự nhiên, ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân. Theo báo cáo của Liên hợp quốc, hiện nay, đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng tại một số quốc gia và khu vực với tốc độ chưa từng có, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển. Dân số thành thị đang đông hơn dân số nông thôn và đến giữa thế kỷ này, Liên hợp quốc dự đoán, cứ 10 người trên hành tinh thì sẽ có 7 người sống ở khu vực đô thị [38]. Sự phức tạp của các vấn đề về kinh tế, xã hội, giao thông, kỹ thuật, tăng sự tập trung dân cư vào các khu vực đô thị phát triển nhất định… dẫn đến việc phải BVMTĐT trở nên cần thiết hơn lúc nào hết.