Hình Tượng Tác Giả Trong Hồi Ký Văn Học Việt Nam Sau 1985

Tài liệu nghiên cứu Luận văn hình tượng tác giả trong hồi ký văn học việt nam sau 1985, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về văn học.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Lí luận văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

173
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.2.1. Đối tượng nghiên cứu

0.2.2. Phạm vi nghiên cứu

0.3. Mục đích nghiên cứu

0.4. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Đóng góp mới của luận án

0.7. Cấu trúc luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Những vấn đề lý luận chung về hình tượng tác giả và hồi ký

1.2. Khái niệm tác giả và hình tượng tác giả. Khái niệm hồi ký và hồi ký văn học

1.3. Những công trình, bài viết về hồi ký văn học Việt Nam sau 1985

1.4. Những công trình, bài báo nghiên cứu khái quát

1.5. Những công trình, bài báo nghiên cứu về từng tác giả, tác phẩm

1.6. Hình tượng tác giả dưới điểm nhìn chủ thể

2. CHƯƠNG 2: SỰ VẬN ĐỘNG CỦA HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ VÀ DIỆN MẠO HỒI KÝ TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM SAU 1985

2.1. Các kiểu hình tượng tác giả trong văn học

2.2. Một số loại hình tác giả

2.3. Sự vận động của hình tượng tác giả

2.4. Sự giao thoa giữa hình tượng tác giả - người kể chuyện với người trần thuật trong hồi ký văn học

2.5. Diện mạo của hồi ký văn học Việt Nam

2.5.1. Hồi ký văn học trước 1985

2.5.2. Hồi ký văn học từ sau 1985 đến nay

3. CHƯƠNG 3: HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ - NHỮNG CHỦ THỂ GIAO TIẾP NGHỆ THUẬT TRONG HỒI KÝ VĂN HỌC VIỆT NAM SAU 1985

3.1. Chủ thể qua những chân dung văn học

3.2. Chân dung tự họa

3.3. Chân dung bè bạn một thời

3.4. Hình tượng tác giả như là những chủ thể giàu trải nghiệm

3.5. Cái nhìn hiện thực qua những bức tranh đời sống sinh động

3.6. Những suy ngẫm về thân phận con người

3.7. Hình tượng tác giả như là chủ thể đối thoại, kết nối với quá khứ và hiện tại

3.8. Những câu chuyện của quá khứ mang đến lời giải đáp cho hiện tại

3.9. Tư tưởng dân chủ và tinh thần đổi mới

4. CHƯƠNG 4: HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ TRONG HỒI KÝ VĂN HỌC SAU 1985 NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT

4.1. Không gian và thời gian nghệ thuật

4.1.1. Không gian nghệ thuật

4.1.2. Thời gian nghệ thuật

4.2. Các phương thức trần thuật

4.2.1. Điểm nhìn trần thuật

4.2.2. Ngôn ngữ trần thuật

4.2.3. Sự kết hợp giữa kể, tả và bộc lộ cảm xúc

4.2.4. Giọng điệu trần thuật

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Hồi Ký Văn Học Việt Nam Sau 1985 Bối Cảnh

Văn học Việt Nam từ 1975 chứng kiến sự đổi mới và phát triển trên nhiều phương diện. Một trong những yếu tố quan trọng là sự vận động, đổi mới về mặt thể loại. Trong giai đoạn này, hồi ký nổi lên như một tiểu thể loại quan trọng, đặc biệt sau đổi mới năm 1986. Sự thúc đẩy thể hồi ký phát triển và nhu cầu nhận thức lại quá khứ trở nên bức thiết; nhu cầu giãi bày của chủ thể sáng tạo; cái tôi cá nhân của tác giả trở thành đối tượng phản ánh. Sự ra đời của hàng loạt tác phẩm đã tạo nên một mảng sinh động, mới mẻ trong đời sống văn học. Theo Bakhtin: “Không thể có tác phẩm nằm ngoài thể loại. Tác phẩm chỉ tồn tại trong một hình thức thể loại cụ thể”.

1.1. Sự Trỗi Dậy Của Hồi Ký Sau Đổi Mới Nguyên Nhân

Tinh thần dân chủ hóa của đời sống xã hội và sự giải thể chế độ bao cấp đã tạo điều kiện để các nhà văn bộc lộ, giải tỏa những ẩn ức, tái hiện những hiện thực bị bỏ quên hoặc khuất lấp. Nhu cầu tự thân của thể loại, cùng với sự đa dạng hóa cũng như sự dung hợp thể loại đã tạo nên diện mạo hồi ký phong phú. Hơn 30 năm sau đổi mới, hồi ký của các nhà văn chiếm một số lượng lớn, gây xôn xao dư luận và trở thành hiện tượng văn học. Các tác phẩm hồi ký văn học từ sau 1985 ngoài việc cung cấp những lượng thông tin phong phú, đa chiều, còn đáp ứng được những khoái cảm thẩm mỹ.

1.2. Những Tác Phẩm Hồi Ký Tiêu Biểu Giai Đoạn 1985 Nay

Từ “cự ly gần”, chân dung tự họa của nhà văn cũng như những chân dung được họa hiện ra cụ thể, rõ nét. Sức hấp dẫn của những thiên hồi ký như Từ bến sông Thương, Cát bụi chân ai, Một thời để mất, Rừng xưa xanh lá, Nhớ lại một thời, Bên dòng chia cắt là ở mỹ cảm nghệ thuật, ở nội dung đa dạng, phong phú, hình thức thể hiện mới mẻ, và hơn hết là tấm lòng, trách nhiệm đối với cõi người, cõi nghề của nhà văn. Nhiều số phận văn chương, nhiều sự kiện văn học quá khứ được tái dựng theo một cách nhìn mới, có sự nghiền ngẫm, có sự chiêm nghiệm, thậm chí có sự đánh giá lại.

II. Thách Thức Nghiên Cứu Hình Tượng Tác Giả Khoảng Trống

Trong lịch sử nghiên cứu về thể ký, đã có nhiều công trình đi sâu vào nghiên cứu các tiểu loại khác như tùy bút, bút ký, du ký, tạp văn, phóng sự văn học. Tuy vậy, hồi ký vẫn chưa thực sự được quan tâm đúng với vai trò, vị trí của nó; chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện dưới nhiều góc độ. Khoảng trống này xuất phát từ hai nguyên nhân: thành tựu thể hồi ký trước giai đoạn đổi mới không nhiều và quan niệm hồi ký là thể loại ngoại biên văn học vẫn còn chi phối một hướng phê bình nghiên cứu. Chính lí do đó đã khiến hồi ký chưa được các tác giả và nhà nghiên cứu quan tâm đúng mức.

2.1. Tính Chân Thực Và Nghệ Thuật Trong Hồi Ký Mâu Thuẫn

Nhìn từ đặc trưng thể loại, về mặt lý thuyết, hồi ký nhằm thông tin sự thật, đòi hỏi tính chân xác. Tuy vậy, tác phẩm hồi ký không chỉ chú ý đến việc chuyển tải thông tin mà còn đề cao đến chất lượng nội dung và nghệ thuật để hấp dẫn người đọc. Những tác phẩm hồi ký văn học từ sau 1985 ngoài việc cung cấp những lượng thông tin phong phú, đa chiều, còn đáp ứng được những khoái cảm thẩm mỹ trong tầm đón đợi của người đọc hiện đại. Với những cách tân đáng ghi nhận trong nghệ thuật tự sự và thi pháp thể loại, hồi ký văn học sau 1985 là những văn bản đa thanh, với các kết cấu lỏng; sự luân chuyển điểm nhìn trần thuật…

2.2. Dung Hợp Thể Loại Trong Hồi Ký Yếu Tố Hấp Dẫn

Sự xâm nhập, dung hợp các thể loại trong hồi ký tạo nên sự hấp dẫn và hứng khởi với cộng đồng tiếp nhận, khơi gợi những định hướng tiếp cận dưới góc nhìn khách quan, khoa học. Vì những lý do trên, việc nghiên cứu về Hình Tượng Tác Giả Trong Hồi Ký Văn Học Việt Nam Sau Năm 1985 là cần thiết, để thông qua chủ thể sáng tạo như là một kiểu nhân vật đặc trưng của thể loại, từ đó nhận diện những bước vận động, phát triển và khám phá tất cả những vấn đề liên quan thúc đẩy làm nên thành tựu của một giai đoạn văn học.

III. Phân Loại Các Kiểu Hình Tượng Tác Giả Hồi Ký Phân Tích

Hồi ký sau 1985 có nhiều khởi sắc, có sự đóng góp của chủ thể sáng tác chính là hình tượng tác giả. Sự kết tinh tài năng, phong cách của tác giả được biểu hiện thông qua hình tượng tác giả. Vì vậy, đối tượng nghiên cứu là những vấn đề liên quan đến hình tượng tác giả. Nghiên cứu cụ thể hóa những đặc điểm và cách biểu hiện của hình tượng tác giả trong hồi ký văn học từ sau 1985 đến nay ở một số phương diện: sự khác nhau về hình tượng tác giả ở các thể loại văn học nói chung và ở thể hồi ký nói riêng; sự vận động và di chuyển của hình tượng tác giả trong hồi ký văn học; những đặc điểm cơ bản về tư duy và cái nhìn nghệ thuật của chủ thể sáng tạo.

3.1. Phạm Vi Nghiên Cứu Chọn Lọc Tác Giả Và Tác Phẩm Tiêu Biểu

Phạm vi nghiên cứu là những tác phẩm hồi ký văn học được xuất bản ở Việt Nam từ 1985. Do số lượng tác phẩm rất lớn, nghiên cứu sẽ tập trung vào một số tác giả như Tô Hoài, Ma Văn Kháng, Vũ Bão, Bùi Ngọc Tấn, Đặng Thị Hạnh, Đặng Anh Đào, Anh Thơ, Tố Hữu. Họ là những nhà văn, nhà thơ có ảnh hưởng lớn đến đời sống văn học và tác phẩm của họ có giá trị văn chương, thẩm mỹ cao. Mục đích của luận án là nghiên cứu hình tượng tác giả trong hồi ký văn học Việt Nam từ sau 1985 nhằm làm nổi bật tư duy nghệ thuật của các tác giả hồi ký giai đoạn này.

3.2. Mục Đích Nghiên Cứu Làm Nổi Bật Tư Duy Nghệ Thuật

Thông qua đó, chỉ ra đặc điểm của tư duy, cái nhìn nghệ thuật, tài năng, phong cách và đóng góp của thể ký vào diễn trình của văn học thời kỳ đổi mới và đương đại. Làm rõ sự phát triển của thể loại hồi ký, nhất là hồi ký sau 1985. Từ đó cho thấy vai trò của hình tượng tác giả trong hồi ký từ các phương diện: quan niệm sáng tác, nhận thức về thể loại, các phương thức biểu hiện. Nhận diện đặc điểm, quá trình vận động và đánh giá vị trí, đóng góp của thể loại hồi ký trong tiến trình phát triển của các thể loại trong văn học Việt Nam.

IV. Phương Pháp Nghiên Cứu Hình Tượng Tác Giả Áp Dụng

Để thực hiện đề tài này, sử dụng những phương pháp nghiên cứu chính sau: phương pháp loại hình (phân loại các thể loại văn học để khẳng định sự tồn tại và những đặc trưng cơ bản của hồi ký), phương pháp tiểu sử (tìm ra cơ sở lí giải cho những quan điểm sáng tác thông qua tiểu sử người viết), phương pháp so sánh (tìm hiểu diện mạo, đặc điểm, sự vận động và phát triển của hồi ký văn học ở các giai đoạn khác nhau), phương pháp lịch sử - xã hội (tìm ra những tác động của hoàn cảnh lịch sử, xã hội Việt Nam thời kì đổi mới dẫn đến những thay đổi trong quá trình phát triển tiểu thể loại hồi ký).

4.1. Phương Pháp Tiểu Sử Giải Mã Quan Điểm Sáng Tác

Với việc chú trọng vào tiểu sử của người viết, có thể tìm ra cơ sở lí giải cho những quan điểm sáng tác, những hình tượng nghệ thuật đặc biệt là hình tượng tác giả xuất hiện trong tác phẩm. Bằng cách sử dụng phương pháp lịch sử - xã hội, có thể tìm ra những tác động của hoàn cảnh lịch sử, xã hội Việt Nam thời kì đổi mới dẫn đến những thay đổi trong quá trình phát triển tiểu thể loại hồi kí trong trục nghiên cứu tiến trình văn học, hệ hình phát triển của thể loại để có cái nhìn xuyên suốt về đặc điểm và đóng góp của hồi ký trong đời sống văn học và xã hội.

4.2. Phương Pháp So Sánh Đối Chiếu Các Giai Đoạn Phát Triển

Đây là con đường để tìm hiểu diện mạo, đặc điểm, sự vận động và phát triển của hồi ký văn học ở các giai đoạn trước so với giai đoạn sau 1985 trên cơ sở so sánh, đối chiếu với hồi ký các giai đoạn trước và sau nó; hoặc so sánh với các thể loại khác, giữa các tác giả viết hồi ký văn học trong cùng một giai đoạn để làm nổi bật vấn đề hình tượng tác giả. Ngoài ra, dưới ảnh hưởng của lý thuyết tự sự học, thi pháp học, còn vận dụng một số thao tác như: tổng hợp, thống kê, phân loại…

V. Đóng Góp Mới Luận Án Nghiên Cứu Hình Tượng Tác Giả

Với mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án mong muốn có được những đóng góp chủ yếu sau: hệ thống hóa những vấn đề cơ bản của lý thuyết hình tượng tác giả và vận dụng nó vào việc nghiên cứu một thể loại văn học; thông qua cái hình tượng tác giả, đề cập đến những vấn đề tạo nên dấu ấn, phong cách, tài năng của nhà văn; thông qua những hình tượng tác giả trong thể hồi ký, khẳng định những cách tân trong việc làm mới lại khuôn khổ của thể loại cũ.

5.1. Khẳng Định Vai Trò Hồi Ký Trong Văn Học Đổi Mới

Đặc biệt là hồi ký đã góp thêm những thành tựu riêng vào bức tranh chung của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới. Các tác phẩm này có tầm ảnh hưởng tới đời sống xã hội nói chung và đời sống văn chương đương đại nói riêng. Như một cách đi tìm thời gian đã mất, thể hồi ký có sức hấp dẫn riêng và đặc biệt, không đơn giản chỉ là sự nhắc nhớ, hay những chiêm nghiệm rất riêng của nhà văn.

5.2. Hồi Ký Nhìn Lại Quá Khứ Thẳng Vào Hiện Tại

Hơn thế, hồi ký chính là cách nhìn lại, nhìn đúng, nhìn thẳng vào hiện tại bằng cách xuyên qua quá khứ. Sau năm 1985, hồi ký trở thành hiện tượng của văn học thời kì đổi mới và đương đại. Mang trọng trách kể lại một cách chân thực đời sống cá nhân, đời sống lịch sử dân tộc, những giằng co của các nhà văn giữa tồn tại và sáng tạo, những bi kịch của một thời kì văn học. Chính điều đó tạo sức hấp dẫn đặc biệt với người viết và sự tò mò với bạn đọc.

VI. Tổng Quan Nghiên Cứu Hồi Ký Bối Cảnh Sau 1985

Hồi ký là tiểu thể loại chú trọng đến biến cố, sự kiện trong quá khứ mà người kể đóng vai trò nhân chứng, là người tham dự trực tiếp hoặc chứng kiến sự việc đã xảy ra. Cùng với tư tưởng đổi mới trong nhiều lĩnh vực của đời sống chính trị và xã hội, sau năm 1985 trở đi cũng là thời kì nhìn nhận, định vị lại nhiều giá trị văn chương, văn hóa. Đầu thế kỷ XXI, hồi ký thay thế vị trí của phóng sự, lúc này người ta cần sự chiêm nghiệm, định vị, đánh giá. Cuối những thập niên 90 của thế kỉ XX, trên văn đàn xuất hiện nhiều tác phẩm hồi ký của văn nghệ sĩ mà trước đó chỉ có rất ít.

6.1. Sự Chuyển Đổi Từ Phóng Sự Sang Hồi Ký Lý Do

Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự chuyển đổi từ phóng sự ở thời kỳ đầu đổi mới sang hồi ký vào những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI. Điều đó cho thấy văn chương luôn đáp ứng mối quan tâm, mang đến lời đáp cho những câu hỏi lớn của cộng đồng tiếp nhận. Đó là lý do vì sao mà cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI hồi ký được quan tâm và thực sự thu hút người đọc.

6.2. Hồi Ký Sau 2000 Tranh Luận Và Phản Hồi Từ Độc Giả

Từ sau năm 2000, các tác phẩm hồi ký không còn xuất bản ồ ạt như trước, tuy vậy, với hiệu ứng từ một số hồi ký được phát tán trên mạng, những tranh luận về thể hồi ký liên tiếp được xới lên trong đời sống văn chương. Vài năm trở lại đây từ 2016 - 2018, nhiều tác phẩm hồi ký viết về cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam của các nhà văn đã ra mắt và có phản hồi rất tích cực từ phía độc giả. Trong đó phải kể đến những cuốn sách như: Lang thang qua chiến tranh, Cơ nhỡ trong hòa bình (Thanh Thảo), Mùa chinh chiến ấy (Đoàn Tuấn).

28/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung luận án gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chƣơng 2: Hình tượng tác giả và sự vận động của thể hồi ký trong văn học Việt Nam từ sau 1985 đến nay Chƣơng 3: Hình tượng tác giả - những chủ thể giao tiếp nghệ thuật trong hồi ký văn học Việt Nam từ sau 1985 đến nay Chƣơng 4: Hình tượng tác giả trong hồi ký văn học Việt Nam từ sau 1985 đến nay nhìn từ phương thức nghệ thuật. 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Hồi ký là tiểu thể loại chú trọng đến biến cố, sự kiện trong quá khứ mà ngƣời kể đóng vai trò nhân chứng, là ngƣời tham dự trực tiếp hoặc chứng kiến sự việc đã xảy ra. Cùng với tƣ tƣởng đổi mới trong nhiều lĩnh vực của đời sống chính trị và xã hội, sau năm 1985 trở đi cũng là thời kì nhìn nhận, định vị lại nhiều giá trị văn chƣơng, văn hóa. Đặc biệt làn gió mới ấy đã phả vào đời sống văn chƣơng, cụ thể là sự trở lại của những cây bút có tên tuổi.

Và theo quan sát của chúng tôi, thời kỳ đầu, phóng sự gần nhƣ ở vị trí thắng thế, ngƣời viết và ngƣời đọc quan tâm đến những mặt trái của xã hội, quan tâm đến tính thời sự, những vấn đề bức xúc. Đặc biệt, họ cần lời giải đáp cho những bức xúc thƣờng nhật. Cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, hồi ký thay thế vị trí của phóng sự, lúc này ngƣời ta cần sự chiêm nghiệm, định vị, đánh giá. Theo chúng tôi đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự chuyển đổi từ phóng sự ở thời kỳ đầu đổi mới sang hồi ký vào những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI.

Điều đó cho thấy văn chƣơng luôn đáp ứng mối quan tâm, mang đến lời đáp cho những câu hỏi lớn của cộng đồng tiếp nhận. Đó là lý do vì sao mà cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI hồi ký đƣợc quan tâm và thực sự thu hút ngƣời đọc. Cuối những thập niên 90 của thế kỉ XX, trên văn đàn xuất hiện nhiều tác phẩm hồi ký của văn nghệ sĩ mà trƣớc đó chỉ có rất ít. Nhiều số phận văn chƣơng, nhiều sự kiện văn học quá khứ đƣợc tái dựng theo một cách nhìn mới, có sự nghiền ngẫm, có sự chiêm nghiệm, thậm chí có sự đánh giá lại.

Bên cạnh những cuốn hồi ký về đề tài chiến tranh của các tƣớng lĩnh quân đội, còn có một mảng rất lớn đó chính là hồi ký văn học do các nhà văn viết. Các tác phẩm này có tầm ảnh hƣởng tới đời sống xã hội nói chung và đời sống văn chƣơng đƣơng đại nói riêng. Có thể kể đến là: Hồi ký Đặng Thai Mai (1985) của Đặng Thai Mai, Trong mưa núi (1985) của Phan Tứ, Từ bến sông Thương (1985) của Anh Thơ, Hồi ký Song đôi (1986) của Huy Cận, Những năm tháng ấy (1987) của Vũ Ngọc Phan, Nửa đêm sực tỉnh (1989) của Lƣu Trọng Lƣ, Nhớ nghĩ chiều hôm (1989) của Đào Duy Anh, Cát bụi chân ai (1990) 7 của Tô Hoài, Ba phút sự thật (1992) của Phùng Quán, Tiếng chim tu hú (1995) của Anh Thơ, Chiều chiều (1997) của Tô Hoài, Hồi ký Nguyễn Hiến Lê (1993) của Nguyễn Hiến Lê, Một thời để mất (1994), Rừng xưa xanh lá (1999) của Bùi Ngọc Tấn, Bạn bè một thuở (1999) của Bùi Hiển, Nhớ lại một thời (2000) của Tố Hữu, Rễ bèo chân sóng (2000) của Vũ Bão, Nhớ lại (2002) của Đào Xuân Quý, Bên dòng chia cắt (2002) của Anh Thơ, Hồi ký Quách Tấn (2003) của Quách Tấn, Tầm xuân (2005) của Đặng Anh Đào, Cô bé nhìn mưa (2008) của Đặng Thị Hạnh, Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương (2009) của Ma Văn Kháng. Nhƣ một cách đi tìm thời gian đã mất, thể hồi ký có sức hấp dẫn riêng và đặc biệt, không đơn giản chỉ là sự nhắc nhớ, hay những chiêm nghiệm rất riêng của nhà văn.

Hơn thế, hồi ký chính là cách nhìn lại, nhìn đúng, nhìn thẳng vào hiện tại bằng cách xuyên qua quá khứ. Sau năm 1985, hồi ký trở thành hiện tƣợng của văn học thời kì đổi mới và đƣơng đại. Mang trọng trách kể lại một cách chân thực đời sống cá nhân, đời sống lịch sử dân tộc, những giằng co của các nhà văn giữa tồn tại và sáng tạo, những bi kịch của một thời kì văn học. Chính điều đó tạo sức hấp dẫn đặc biệt với ngƣời viết và sự tò mò với bạn đọc.

Từ sau năm 2000, các tác phẩm hồi ký không còn xuất bản ồ ạt nhƣ trƣớc, tuy vậy, với hiệu ứng từ một số hồi ký đƣợc phát tán trên mạng, những tranh luận về thể hồi ký liên tiếp đƣợc xới lên trong đời sống văn chƣơng. Vài năm trở lại đây từ 2016 - 2018, nhiều tác phẩm hồi ký viết về cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam của các nhà văn đã ra mắt và có phản hồi rất tích cực từ phía độc giả. Trong đó phải kể đến những cuốn sách nhƣ: Lang thang qua chiến tranh, Cơ nhỡ trong hòa bình (Thanh Thảo), Mùa chinh chiến ấy (Đoàn Tuấn). Những vấn đề lý luận chung về hình tƣợng tác giả và hồi ký 1.

Khái niệm tác giả và hình tƣợng tác giả. Khái niệm tác giả văn học Tác giả là một trong những khái niệm cơ bản đƣợc sử dụng nhiều nhất trong lịch sử văn học và phê bình văn học. 8 Năm 1969, trong tiểu luận “Tác giả là gì?”, Michel Foucault đã cho rằng, tác giả phải là “ngƣời phát biểu một tƣ tƣởng mới, quan niệm mới, cách hiểu mới về các hiện tƣợng đời sống xã hội, bày tỏ một lập trƣờng xã hội và công dân nhất định”. Điều đó cho thấy khi nói đến tác giả văn chƣơng, ngƣời ta thƣờng nghĩ đến những ngƣời viết văn, những ngƣời tạo ra những tác phẩm văn chƣơng nghệ thuật với tƣ cách cá nhân.

Theo ông, tác giả chẳng qua là “một biện pháp dùng để ngăn trở sự tự do hƣ cấu, tự do chi phối và cấu tạo lại tác phẩm mà thôi” [51]. Năm 1983, nhà nghiên cứu Đông Hoài trong cuốn Nhận thức và thẩm định đã khẳng định: “Tác giả văn học phải có một kỹ năng miêu tả điêu luyện, một bút pháp độc đáo lành nghề trong đó năng khiếu bẩm sinh là có thật, cần đƣợc kịp thời phát hiện và không ngừng vun bồi bảo vệ” [66, tr. Năm 1992, Từ điển thuật ngữ Văn học (Nxb Giáo dục) có đƣa ra khái niệm tác giả văn học là “ngƣời xây dựng đƣợc một ngôn ngữ nghệ thuật mới, có phong cách riêng, giọng điệu riêng, có bộ mặt riêng trong thể loại, có hệ thống hình ảnh biểu tƣợng đặc trƣng riêng” [134, tr. Với những cái riêng ấy, tác giả giữ vai trò quan trọng trong việc sáng tạo tác phẩm.

Năm 1996, Lại Nguyên Ân trong bài “Loại hình tác giả văn học và vấn đề phương pháp luận nghiên cứu” đã đặt ra và xem xét vấn đề tác giả văn học cụ thể trên hai bình diện: “Ở bình diện xã hội học lịch sử: tác giả là một con ngƣời xã hội, thuộc một giới, một nhóm xã hội nhất định, có vai trò xã hội - văn hóa nhất định trong các giai đoạn lịch sử. Ở bình diện thẩm mỹ - nghệ thuật: tác giả - đó là những dấu ấn văn hóa nhân cách hiện diện ở sáng tác” [6]. Ông cũng cho biết, giới học thuật Nga, hình dung bình diện thẩm mỹ - nghệ thuật của phạm trù tác giả bằng thuật ngữ “hình tƣợng tác giả”, hoặc “kiểu tác giả”. Năm 1997, trong Từ điển thuật ngữ Văn học, nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đã đƣa ra định nghĩa về tác giả văn học: “Nhìn bề ngoài, tác giả làm ra văn bản ngôn từ: bài thơ, bài văn, bài báo, tác phẩm văn học.

Về thực chất tác giả văn học làm ra cái mới, ngƣời sáng tạo ra các giá trị văn học mới. Sự 9 bắt buộc mô phỏng, theo đuôi thời thƣợng hoặc sáng tác không có bản sắc không làm nên tác giả văn học đích thực” [56, tr. Nhƣ vậy, các nhà nghiên cứu không chỉ đánh giá vai trò của tác giả văn học ở mặt xã hội mà còn ở đặc thù nghề nghiệp. Điều đó có nghĩa là các tác giả văn học ngoài việc thể hiện chính kiến riêng của mình về đời sống và thời cuộc, quan trọng hơn hết, họ còn là ngƣời xây dựng thành công các hình tƣợng nghệ thuật độc đáo, cái nhìn sinh động và mang lại sự hứng khởi cho cộng đồng tiếp nhận.

Cho đến nay, vấn đề tác giả vẫn còn đƣợc các nhà nghiên cứu văn học tiếp tục khai thác trên nhiều bình diện loại hình, thể loại. Năm 1998, Trần Đình Sử khẳng định: “Lý luận về tác phẩm và tác giả đang trong giai đoạn xây dựng và cho đến nay chƣa có một lý luận có đầy đủ cơ sở về hai khái niệm này”. Bởi vì “Tác giả là trung tâm tổ chức nội dung và hình thức cái nhìn nghệ thuật trong tác phẩm, là ngƣời mang cảm quan thế giới đặc thù và là trung tâm tổ chức lại ngôn từ theo nguyên tắc nghệ thuật. Do vậy, hình tƣợng tác giả, kiểu tác giả là những phạm trù của thi pháp học hiện đại” [159, tr.

Vì lẽ trên, chúng tôi nghĩ rằng, việc tìm hiểu những vấn đề có liên quan đến thời đại, quá trình lao động và sáng tạo của nhà văn là cần thiết. Hoàn cảnh xuất thân, quê quán, thời gian sống và hành trạng góp phần làm rõ các khía cạnh tƣ tƣởng, tâm lý trong tác phẩm. Việc nghiên cứu vai trò của tác giả tạo điều kiện hơn cho chúng tôi khi bàn về vấn đề hình tƣợng tác giả trong văn học nói chung và thể hồi ký nói riêng. Hình tượng tác giả trong văn học Ở bất kỳ thể loại nào, tự sự, trữ tình hay kịch, chủ thể sáng tạo luôn xuất hiện, dù có thể là đậm nhạt, trực tiếp hay gián tiếp.

Với trí tƣởng tƣợng phong phú, khả năng lựa chọn đề tài, chủ đề, sự vận dụng khéo léo các thủ pháp nghệ thuật, sự linh hoạt trong sử dụng ngôn ngữ, ngƣời nghệ sĩ đã sáng tạo ra tác phẩm nghệ thuật để thể hiện những tƣ tƣởng tình cảm của chính mình. Hình tƣợng tác giả là một trong những yếu tố quyết định nên phong cách nhà văn. Chúng ta biết rằng, hình tƣợng tác giả trong văn học là cái đƣợc biểu hiện 10 trong tác phẩm một cách đặc biệt, không giống với nhân vật. Vì vậy, nhà thơ Đức I.Goethe đã nhận xét: “Mỗi nhà văn bất kể muốn hay không, đều miêu tả chính mình trong tác phẩm của mình một cách đặc biệt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Hình Tượng Tác Giả Trong Hồi Ký Văn Học Việt Nam Sau 1985" khám phá vai trò và hình ảnh của tác giả trong thể loại hồi ký văn học Việt Nam từ năm 1985 trở đi. Tác giả phân tích cách mà các nhà văn thể hiện bản thân và quan điểm cá nhân thông qua những tác phẩm hồi ký, từ đó làm nổi bật sự giao thoa giữa văn hóa, lịch sử và cá nhân. Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về sự phát triển của thể loại hồi ký mà còn mở ra những góc nhìn mới về cách mà tác giả tương tác với độc giả và xã hội.

Để mở rộng thêm kiến thức về nghệ thuật trong văn học, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thế giới nghệ thuật trong tùy bút của đỗ chu, nơi khám phá nghệ thuật trong thể loại tùy bút, hay Luận văn đặc điểm nghệ thuật tự truyện và hồi kí của tô hoài, giúp bạn hiểu rõ hơn về nghệ thuật tự truyện trong văn học. Ngoài ra, Luận văn kết cấu và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong một số tiểu thuyết mạc ngôn cũng là một tài liệu thú vị để tìm hiểu về nghệ thuật xây dựng nhân vật trong văn học. Những tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc hơn về các khía cạnh nghệ thuật trong văn học Việt Nam.