phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung luận án gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chƣơng 2: Hình tượng tác giả và sự vận động của thể hồi ký trong văn học Việt Nam từ sau 1985 đến nay Chƣơng 3: Hình tượng tác giả - những chủ thể giao tiếp nghệ thuật trong hồi ký văn học Việt Nam từ sau 1985 đến nay Chƣơng 4: Hình tượng tác giả trong hồi ký văn học Việt Nam từ sau 1985 đến nay nhìn từ phương thức nghệ thuật. 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Hồi ký là tiểu thể loại chú trọng đến biến cố, sự kiện trong quá khứ mà ngƣời kể đóng vai trò nhân chứng, là ngƣời tham dự trực tiếp hoặc chứng kiến sự việc đã xảy ra. Cùng với tƣ tƣởng đổi mới trong nhiều lĩnh vực của đời sống chính trị và xã hội, sau năm 1985 trở đi cũng là thời kì nhìn nhận, định vị lại nhiều giá trị văn chƣơng, văn hóa. Đặc biệt làn gió mới ấy đã phả vào đời sống văn chƣơng, cụ thể là sự trở lại của những cây bút có tên tuổi.
Và theo quan sát của chúng tôi, thời kỳ đầu, phóng sự gần nhƣ ở vị trí thắng thế, ngƣời viết và ngƣời đọc quan tâm đến những mặt trái của xã hội, quan tâm đến tính thời sự, những vấn đề bức xúc. Đặc biệt, họ cần lời giải đáp cho những bức xúc thƣờng nhật. Cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, hồi ký thay thế vị trí của phóng sự, lúc này ngƣời ta cần sự chiêm nghiệm, định vị, đánh giá. Theo chúng tôi đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự chuyển đổi từ phóng sự ở thời kỳ đầu đổi mới sang hồi ký vào những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI.
Điều đó cho thấy văn chƣơng luôn đáp ứng mối quan tâm, mang đến lời đáp cho những câu hỏi lớn của cộng đồng tiếp nhận. Đó là lý do vì sao mà cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI hồi ký đƣợc quan tâm và thực sự thu hút ngƣời đọc. Cuối những thập niên 90 của thế kỉ XX, trên văn đàn xuất hiện nhiều tác phẩm hồi ký của văn nghệ sĩ mà trƣớc đó chỉ có rất ít. Nhiều số phận văn chƣơng, nhiều sự kiện văn học quá khứ đƣợc tái dựng theo một cách nhìn mới, có sự nghiền ngẫm, có sự chiêm nghiệm, thậm chí có sự đánh giá lại.
Bên cạnh những cuốn hồi ký về đề tài chiến tranh của các tƣớng lĩnh quân đội, còn có một mảng rất lớn đó chính là hồi ký văn học do các nhà văn viết. Các tác phẩm này có tầm ảnh hƣởng tới đời sống xã hội nói chung và đời sống văn chƣơng đƣơng đại nói riêng. Có thể kể đến là: Hồi ký Đặng Thai Mai (1985) của Đặng Thai Mai, Trong mưa núi (1985) của Phan Tứ, Từ bến sông Thương (1985) của Anh Thơ, Hồi ký Song đôi (1986) của Huy Cận, Những năm tháng ấy (1987) của Vũ Ngọc Phan, Nửa đêm sực tỉnh (1989) của Lƣu Trọng Lƣ, Nhớ nghĩ chiều hôm (1989) của Đào Duy Anh, Cát bụi chân ai (1990) 7 của Tô Hoài, Ba phút sự thật (1992) của Phùng Quán, Tiếng chim tu hú (1995) của Anh Thơ, Chiều chiều (1997) của Tô Hoài, Hồi ký Nguyễn Hiến Lê (1993) của Nguyễn Hiến Lê, Một thời để mất (1994), Rừng xưa xanh lá (1999) của Bùi Ngọc Tấn, Bạn bè một thuở (1999) của Bùi Hiển, Nhớ lại một thời (2000) của Tố Hữu, Rễ bèo chân sóng (2000) của Vũ Bão, Nhớ lại (2002) của Đào Xuân Quý, Bên dòng chia cắt (2002) của Anh Thơ, Hồi ký Quách Tấn (2003) của Quách Tấn, Tầm xuân (2005) của Đặng Anh Đào, Cô bé nhìn mưa (2008) của Đặng Thị Hạnh, Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương (2009) của Ma Văn Kháng. Nhƣ một cách đi tìm thời gian đã mất, thể hồi ký có sức hấp dẫn riêng và đặc biệt, không đơn giản chỉ là sự nhắc nhớ, hay những chiêm nghiệm rất riêng của nhà văn.
Hơn thế, hồi ký chính là cách nhìn lại, nhìn đúng, nhìn thẳng vào hiện tại bằng cách xuyên qua quá khứ. Sau năm 1985, hồi ký trở thành hiện tƣợng của văn học thời kì đổi mới và đƣơng đại. Mang trọng trách kể lại một cách chân thực đời sống cá nhân, đời sống lịch sử dân tộc, những giằng co của các nhà văn giữa tồn tại và sáng tạo, những bi kịch của một thời kì văn học. Chính điều đó tạo sức hấp dẫn đặc biệt với ngƣời viết và sự tò mò với bạn đọc.
Từ sau năm 2000, các tác phẩm hồi ký không còn xuất bản ồ ạt nhƣ trƣớc, tuy vậy, với hiệu ứng từ một số hồi ký đƣợc phát tán trên mạng, những tranh luận về thể hồi ký liên tiếp đƣợc xới lên trong đời sống văn chƣơng. Vài năm trở lại đây từ 2016 - 2018, nhiều tác phẩm hồi ký viết về cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam của các nhà văn đã ra mắt và có phản hồi rất tích cực từ phía độc giả. Trong đó phải kể đến những cuốn sách nhƣ: Lang thang qua chiến tranh, Cơ nhỡ trong hòa bình (Thanh Thảo), Mùa chinh chiến ấy (Đoàn Tuấn). Những vấn đề lý luận chung về hình tƣợng tác giả và hồi ký 1.
Khái niệm tác giả và hình tƣợng tác giả. Khái niệm tác giả văn học Tác giả là một trong những khái niệm cơ bản đƣợc sử dụng nhiều nhất trong lịch sử văn học và phê bình văn học. 8 Năm 1969, trong tiểu luận “Tác giả là gì?”, Michel Foucault đã cho rằng, tác giả phải là “ngƣời phát biểu một tƣ tƣởng mới, quan niệm mới, cách hiểu mới về các hiện tƣợng đời sống xã hội, bày tỏ một lập trƣờng xã hội và công dân nhất định”. Điều đó cho thấy khi nói đến tác giả văn chƣơng, ngƣời ta thƣờng nghĩ đến những ngƣời viết văn, những ngƣời tạo ra những tác phẩm văn chƣơng nghệ thuật với tƣ cách cá nhân.
Theo ông, tác giả chẳng qua là “một biện pháp dùng để ngăn trở sự tự do hƣ cấu, tự do chi phối và cấu tạo lại tác phẩm mà thôi” [51]. Năm 1983, nhà nghiên cứu Đông Hoài trong cuốn Nhận thức và thẩm định đã khẳng định: “Tác giả văn học phải có một kỹ năng miêu tả điêu luyện, một bút pháp độc đáo lành nghề trong đó năng khiếu bẩm sinh là có thật, cần đƣợc kịp thời phát hiện và không ngừng vun bồi bảo vệ” [66, tr. Năm 1992, Từ điển thuật ngữ Văn học (Nxb Giáo dục) có đƣa ra khái niệm tác giả văn học là “ngƣời xây dựng đƣợc một ngôn ngữ nghệ thuật mới, có phong cách riêng, giọng điệu riêng, có bộ mặt riêng trong thể loại, có hệ thống hình ảnh biểu tƣợng đặc trƣng riêng” [134, tr. Với những cái riêng ấy, tác giả giữ vai trò quan trọng trong việc sáng tạo tác phẩm.
Năm 1996, Lại Nguyên Ân trong bài “Loại hình tác giả văn học và vấn đề phương pháp luận nghiên cứu” đã đặt ra và xem xét vấn đề tác giả văn học cụ thể trên hai bình diện: “Ở bình diện xã hội học lịch sử: tác giả là một con ngƣời xã hội, thuộc một giới, một nhóm xã hội nhất định, có vai trò xã hội - văn hóa nhất định trong các giai đoạn lịch sử. Ở bình diện thẩm mỹ - nghệ thuật: tác giả - đó là những dấu ấn văn hóa nhân cách hiện diện ở sáng tác” [6]. Ông cũng cho biết, giới học thuật Nga, hình dung bình diện thẩm mỹ - nghệ thuật của phạm trù tác giả bằng thuật ngữ “hình tƣợng tác giả”, hoặc “kiểu tác giả”. Năm 1997, trong Từ điển thuật ngữ Văn học, nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đã đƣa ra định nghĩa về tác giả văn học: “Nhìn bề ngoài, tác giả làm ra văn bản ngôn từ: bài thơ, bài văn, bài báo, tác phẩm văn học.
Về thực chất tác giả văn học làm ra cái mới, ngƣời sáng tạo ra các giá trị văn học mới. Sự 9 bắt buộc mô phỏng, theo đuôi thời thƣợng hoặc sáng tác không có bản sắc không làm nên tác giả văn học đích thực” [56, tr. Nhƣ vậy, các nhà nghiên cứu không chỉ đánh giá vai trò của tác giả văn học ở mặt xã hội mà còn ở đặc thù nghề nghiệp. Điều đó có nghĩa là các tác giả văn học ngoài việc thể hiện chính kiến riêng của mình về đời sống và thời cuộc, quan trọng hơn hết, họ còn là ngƣời xây dựng thành công các hình tƣợng nghệ thuật độc đáo, cái nhìn sinh động và mang lại sự hứng khởi cho cộng đồng tiếp nhận.
Cho đến nay, vấn đề tác giả vẫn còn đƣợc các nhà nghiên cứu văn học tiếp tục khai thác trên nhiều bình diện loại hình, thể loại. Năm 1998, Trần Đình Sử khẳng định: “Lý luận về tác phẩm và tác giả đang trong giai đoạn xây dựng và cho đến nay chƣa có một lý luận có đầy đủ cơ sở về hai khái niệm này”. Bởi vì “Tác giả là trung tâm tổ chức nội dung và hình thức cái nhìn nghệ thuật trong tác phẩm, là ngƣời mang cảm quan thế giới đặc thù và là trung tâm tổ chức lại ngôn từ theo nguyên tắc nghệ thuật. Do vậy, hình tƣợng tác giả, kiểu tác giả là những phạm trù của thi pháp học hiện đại” [159, tr.
Vì lẽ trên, chúng tôi nghĩ rằng, việc tìm hiểu những vấn đề có liên quan đến thời đại, quá trình lao động và sáng tạo của nhà văn là cần thiết. Hoàn cảnh xuất thân, quê quán, thời gian sống và hành trạng góp phần làm rõ các khía cạnh tƣ tƣởng, tâm lý trong tác phẩm. Việc nghiên cứu vai trò của tác giả tạo điều kiện hơn cho chúng tôi khi bàn về vấn đề hình tƣợng tác giả trong văn học nói chung và thể hồi ký nói riêng. Hình tượng tác giả trong văn học Ở bất kỳ thể loại nào, tự sự, trữ tình hay kịch, chủ thể sáng tạo luôn xuất hiện, dù có thể là đậm nhạt, trực tiếp hay gián tiếp.
Với trí tƣởng tƣợng phong phú, khả năng lựa chọn đề tài, chủ đề, sự vận dụng khéo léo các thủ pháp nghệ thuật, sự linh hoạt trong sử dụng ngôn ngữ, ngƣời nghệ sĩ đã sáng tạo ra tác phẩm nghệ thuật để thể hiện những tƣ tƣởng tình cảm của chính mình. Hình tƣợng tác giả là một trong những yếu tố quyết định nên phong cách nhà văn. Chúng ta biết rằng, hình tƣợng tác giả trong văn học là cái đƣợc biểu hiện 10 trong tác phẩm một cách đặc biệt, không giống với nhân vật. Vì vậy, nhà thơ Đức I.Goethe đã nhận xét: “Mỗi nhà văn bất kể muốn hay không, đều miêu tả chính mình trong tác phẩm của mình một cách đặc biệt.