Chương 1: Những nhân vật phụ nữ phản diện 1. _ Bối cảnh thời đại và những tư tưởng, lễ giáo phong kiến chi phối đến con người Do chịu ảnh hưởng sâu sắc nền văn hoá Trung Quốc từ hàng ngàn năm nay nên những tư tưởng, lễ giáo phong kiến đã ăn sâu bám rễ thâm căn cố dé vào tâm trí con người Việt Nam. Có thé nói phong tục tập quán của chúng ta bắt nguồn và phụ thuộc rat nhiều vào Nho giáo. Triết lý Không Tử luôn hiện hữu trong sinh hoạt của con người và xã hội Việt Nam.
Quan niệm giáo dục của Không Giáo là “nam ngoại”, “nữ nội” : Trai thời đọc sách ngâm thơ, Dui mài kinh sw, đợi chờ kịp khoa. Gái thời giữ việc trong nhà, Khi vào canh cửi, khi ra thêu thùa. (Phận trai và gái — Nguyễn Trãi) Người phụ nữ phải lui vào hậu cung để lo giữ việc trong nhà, còn những việc xã hội hoàn toàn là công việc của đàn ông. Ngoài việc canh cửi thêu thùa, người phụ nữ còn phải cáng đáng mọi việc trong gia đình để người đàn ông có thời giờ đọc sách ngâm thơ, dùi mài kinh sử.
Bồn phận người phụ nữ là phục tong và trau dồi tứ đức: công, dung, ngôn, hạnh dé trọn đạo làm con gái ngoan, dâu thảo, vợ đảm và mẹ hiền cho đẹp lòng nam giới. Cho nên người phụ nữ không được coi trọng trong xã hội, thậm chí họ coi: Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô. Không Tử nói rằng: “Duy đương nữ tử dữ tiểu nhân nan giáo dã!” (Chỉ có đàn bà và kẻ tiểu nhân là khó dạy vậy!). Cho nên, Không Giáo có một quy chế khắt khe trói buộc phụ nữ vào trong ngưỡng cửa gia đình, và bổn phận má hồng là phải núp bóng tùng quân.
Điều đó đã có từ xa xưa và bao đời họ quan niệm và hành xử như thế nên ho coi đó là chân lí, là chuân mực xã hội. Di ngược lại điều đó là không thể chấp nhận được. Thực tế là tư tưởng của Khong giáo cũng có những mặt tích cực. Quan niệm trên, nếu được thi hành đúng đắn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho đàn ông có được sự êm ấm hạnh phúc, dành toàn tâm toàn ý cho sự nghiệp.
Nhưng trong hoàn cảnh giáo dục này, phụ nữ chỉ là những người nội trợ giỏi, chứ không phải là những người tham gia vào xây Luận van thạc sỹ 11 Phạm Thị Thu Hà Hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyét Tự Lực van đoàn dựng xã hội. Và quan trọng hơn, họ không có quyền sống riêng, không được có tiếng nói và được biết đến tình yêu và hạnh phúc lứa đôi đích thực. Họ phải sống âm thầm chịu đựng và nhẫn nại hi sinh, chấp nhận như là cuộc sống tự nhiên của mình. Cuộc sống của họ là những người tù chung thân không bao giờ thoát khỏi cảnh sống tù day.
Chính vì sự bất toàn đó, có người ép mình vâng chịu, nhưng cũng có phụ nữ bày tỏ sự bất phục, như lời tuyên bố hào hùng của TriệuThị Trinh: “ Tôi muốn cối cơn gió mạnh, đạp luéng sóng dữ, chém cá kinh ở biển đông, quét sạch giặc khỏi bờ cõi, dé cứu dân ta ra khỏi nơi đắm đuối; chớ không thèm bắt chước đám người cui dau cong lưng dé làm tì thiếp cho người ta!”. Nhưng người phụ nữ như Bà Trưng, Bà Triệu thì vô cùng hiếm hoi trong xã hội xưa. Ngay như người tài hoa, sắc sao, “cái miệng chua ngoa” như Hồ Xuân Hương cũng chỉ đám thốt lên: Vi đây đổi phận làm trai được Thì sự anh hùng há bấy nhiêu ( Đề dén Sâm Nghi Dong) Nhưng cái thiên chức trời sinh ra đã cho là người phụ nữ rồi thì không thê thay đổi được. Cho nên Hồ Xuân Hương đành ngậm ngùi: Ran nát mặc dau tay kẻ nặn Mà em vẫn giữ tắm lòng son.
(Banh trôi nước) Hầu hết những người phụ nữ trong xã hội đã ý thức được về phâm chất tốt đẹp của bản thân, muốn thoát khỏi cuộc sống này nhưng không thể, đành chung nhau cái ngậm ngui chua xót: Thân em như tắm lụa đào Phat pho giữa chợ biết vào tay ai (Ca đao) Em như con hac dau đình Muốn bay không nhắc nồi mình mà bay. (Ca dao) Luận van thạc sỹ 12 Phạm Thị Thu Hà Hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyét Tự Lực van đoàn Trải qua bao thế hệ, xã hội phong kiến vẫn tồn tại và bất bình đăng như vậy. Cho đến đầu thế ki XX, khi nước ta không chỉ tiếp xúc duy nhất với Trung Hoa nữa ma đã giao lưu với phương Tây, chịu sự ảnh hưởng của nền văn minh rat mới lạ, thậm chí đối lập với tư tưởng văn hoá phương Đông thì sự toả chiết của Không Giáo vẫn còn trong cuộc sống, xã hội con người Việt Nam. Họ sống với niềm tin vào chân lí đã tồn tại hàng ngàn năm.
Lam thé nào dé mọi người thay đồi nếp sống, nếp nghĩ? Đó là công việc rất khó khăn vì không đơn giản dé con người ta thay đổi được hệ tư tưởng. Không phải là những nhà tư tưởng cải cách xã hội nhưng những văn nghệ sĩ, những nhà thơ, nhà văn cũng góp phần vào công việc tác động tới nhận thức, tư tưởng, tình cảm của con người. Công cụ của họ là những tác phâm văn học. Ý thức được điều đó nên trong những năm giao thời, có một nhóm các nhà văn được tiếp xúc với tri thức và tư tưởng Tây phương đã nhận ra hạn chế của thời đại, đã mạnh dan làm cuộc cách mạng trong văn học.
Qua đó họ mong muốn thay đối thành kiến, suy nghĩ của con người để xây dựng một xã hội tiến bộ, nhân bản, vì quyền sống, quyền hạnh phúc của con người. Đó là nhóm Tự lực văn đoàn. Tự Lực văn đoàn chính thức ra mắt độc giả trên số báo Phong Hoá tháng 3 năm 1933 với “bảy vì sao”: Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Hoàng Đạo, Tú Mỡ, Thế Lữ, Nguyễn Gia Trí. Ngoài ra, nhóm còn có sự cộng tác của nhiều người khác như Nguyễn Tường Câm, Nguyễn Tường Bách, Nguyễn Cát Tường, Trần Tiêu, Thanh Tịnh, Xuân Diệu, Huy Cận.
Các nhà văn, nha báo trong Tự Lực văn doan ma Nhất Linh đứng đầu có tư tưởng duy tân, muốn đả phá cái xã hội với những tập tục, lễ giáo mà thế hệ Nho Phong gọi là quốc hồn, quốc tuý, đả phá cái hủ tục của dân quê sau luỹ tre làng, đả phá cái không khí bạc nhược, chán nản, bi quan dé thay vào đó là cuộc sống sôi động, vui vẻ, trẻ trung, dé cao tự do cá nhân, cỗ vũ con người sống thoả mãn nhu cầu của bản thân, giải thoát con người khỏi những trói buộc của khuôn vàng thước ngọc, đạo lí, luân lí giáo điều. Những điều đó được nhóm cụ thé hoá thành tôn chỉ hành động mà Hoang Dao đã đưa ra trong bài Mười diéu tâm niệm cho thanh niên (báo Ngày nay 1936). Tự Lực văn đoàn tỏ ra là một tổ chức văn học rất qui củ và hoàn toản khác. Trong lịch sử, các thi xã thường phải dựa vào thế lực của tầng lớp bên trên như vua quan, hay Luận van thạc sỹ 13 Phạm Thị Thu Hà Hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyét Tự Lực van đoàn lãnh chúa một vùng, chăng hạn Hội Tao đàn của Lê Thánh Tông, Chiêu Anh các của Mạc Thiên Tích, Mặc Vân thi xã của Anh em Miên Tham.
Các thi xã đó thành lập dé thoả mãn nhu cầu muốn được đàm đạo thơ văn, coi đó là một thú vui tao nhã nên chỉ lay việc ngâm vịnh văn chương dé choi. Sáng tác của ho chỉ nhằm mục dich tự thân, để nêu cao gương sáng, tư tưởng trung quân ái quốc, vua sáng tôi hiền.Họ làm thơ dé cho moi người noi theo, răn dạy những điều hay, lẽ phải, những điều được ca tụng. Tự lực văn đoàn trái lại, là sự tập hợp những con người không có quan tước, cũng không có thế lực nao bảo trợ. Họ viết văn như là một phương tiện, một nghề dé kiếm sống nhưng không vi thế mà thương mại hoá nghệ thuật.
Chính vì coi đó là cần câu cơm của mình cho nên muốn được công chúng đón nhận, họ phải viết hết mình, luôn phải sang tao, tìm tỏi, trăn trở viết thế nào cho hay, cho hợp với tâm lí độc giả để sách báo bán chạy. Nếu như không lao động nghệ thuật nghiêm túc, họ sẽ bị đào thải và lu mờ nhanh chóng. Văn chương Tự Lực văn đoàn không chỉ nhằm để nuôi sống bản thân, gia đình mà còn có ý nghĩa cải tạo xã hội sâu sắc. Sau ba năm, Hoàng Đạo đã tổng kết rằng: « Ba năm qua, sự thay đổi của phong tục lễ nghi tuy chưa rõ rệt nhưng sự thay đôi linh hồn dân ta đã ngắm từ tốn mà tiễn hành, không có sức mạnh nào mà ngăn cản được nữa.
Những lí tưởng, những quan niệm cũ dan mat đi vẻ uy nghỉ lam liệt, tat rồi cũng phải theo thời gian mà bị phá tan, nhường chỗ cho những quan niệm những lí tưởng mới » (Phong Hoá, số Kỷ niệm ba năm, bài Bên đường đừng bước). Từ thế kỉ XVIII- XIX, hình tượng người phụ nữ đã đi vào trong văn học với những khát khao về hạnh phúc lứa đôi. Nhưng đó cũng chỉ là những ước ao, những khát vọng không thành hiện thực của nàng Dao Tiên ( Hoa tién của Nguyễn Huy Tự), nàng Chinh phụ (Chỉnh phụ ngâm của Đặng Trần Côn — Đoàn Thị Điểm dịch (2), nang Vũ Nương (Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ), nàng Vương Thuý Kiều (Truyện Kiểu của Nguyễn Du), Chu Kiều Oanh (Giác mộng con của Tản Đà). Họ cũng chính là tiếng nói đại diện cho con người cá nhân lần đầu tiên được đưa vào văn học, đã tạo nên cuộc cách mạng trong văn học khi trên văn đàn lúc bấy giờ chỉ chú trọng làm thơ đề nói chí tỏ lòng, dé ngâm vịnh cảnh đẹp trong lúc nhàn tan tức cảnh sinh tình.
Chưa bao giờ Luận van thạc sỹ 14 Phạm Thị Thu Hà Hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyét Tự Lực van đoàn văn học lại vang lên những tiếng nói thé hiện sự khát khao hạnh phúc tới mức mãnh liệt, sự khô héo trong mỏi mòn chờ đợi của người phụ nữ khi phải xa chồng: Khắc giờ đằng đăng như niên Moi sâu dang dặc tựa miễn biển xa Hương gượng đốt hôn đà mê mải Gương gượng soi lệ lại châu chan Sắt cam gượng gay ngón đàn Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng.