Chương 1 CÁI TÔI TRỮ TÌNH VÀ HÀNH TRÌNH THƠ NGUYỄN DUY 1. Quan niệm về cái tôi trữ tình 1. Khái niệm cái tôi Cái tôi ra đời đánh dấu ý thức đầu tiên của con người về bản thể tồn tại của chính mình. Từ đó ý thức được, mỗi con người là một cá thể độc lập, khác với cá thể khác.
Theo Đêcac, cái tôi thể hiện ra như một cái thuộc về thực thể biết tư duy, như căn nguyên của nhận thức duy lí, và do đó, cái tôi khẳng định tính độc lập của mình. Ông có định nghĩa nổi tiếng “tôi tư duy tức là tôi tồn tại”. Chủ nghĩa duy ngã của Phichtê cho rằng, cái tôi là thực thể, là căn nguyên sáng tạo tuyệt đối, là thực tại duy nhất. Thế giới là thực tại của tôi hoặc là sự biểu hiện của tôi.
Hêghen đã giải thích thực chất xã hội của cái tôi như một sức mạnh (lí tính thế giới) bị tha hóa trên những con người cụ thể. Nói cách khác, đó là lí tính thế giới bộc lộ của từng con người nhất định. H Becxông khi nhấn mạnh đời sống bên trong cá nhân đã chú ý tới cái tôi thuần túy ý thức. Theo ông, con người có hai cái tôi: cái tôi bề mặt và cái tôi bề sâu.
Cái tôi bề mặt là các quan hệ của con người đối với xã hội. Còn cái tôi bề sâu là phần sâu thẳm của ý thức. Đó mới chính là đối tượng của nghệ thuật. Các quan điểm duy tâm về cái tôi đã khẳng định, cái tôi là phương diện trung tâm của tinh thần con người, là cốt lõi của tri thức, có khả năng chi phối các hoạt động và là sự khẳng định nhân cách của con người trong thế giới, tuy vậy, các quan điểm trên đã tách cái tôi khỏi xã hội sinh động, chưa nhìn thấy cơ sở lịch sử - cụ thể và tính tích cực chủ động của cái tôi.
Triết học Mác-Lênin đã xác định giá trị của con người cá nhân từ bản thân con người với tư cách là chủ thể, khách thể của các mối quan hệ xã hội. Mỗi cá nhân có ý nghĩa như một bộ mặt xã hội hóa cá thể con người và cá 10 nhân cùng tìm thấy mình trong xã hội. Triết học Mác khẳng định vai trò của cái tôi: "Cái tôi là trung tâm tinh thần của con người, của cá tính con người có quan hệ tích cực đối với thế giới và với chính bản thân mình. Chỉ có con người độc lập kiểm soát những hành vi của mình và có khả năng thể hiện tính chủ động toàn diện mới có cái tôi của mình" [56, tr.2 Cái tôi trữ tình trong thơ 1.1 Khái niệm cái tôi trữ tình Tìm hiểu khái niệm cái tôi trữ tình, ta cần tiếp cận từ khái niệm trữ tình.
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”, trữ tình là “một trong ba phương thức thể hiện đời sống (bên cạnh tự sự và kịch) làm cơ sở cho một loại văn học…phản ánh đời sống bằng cách bộc lộ trực tiếp ý thức của con người, nghĩa là con người tự cảm thấy mình qua những ấn tượng, ý nghĩ, cảm xúc chủ quan của mình đối với thế giới và nhân sinh” [26, tr. “Từ điển tiếng Việt” của Viện ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên cũng cho rằng: Trữ tình “có nội dung phản ánh hiện thực bằng cách biểu hiện những ý nghĩ cảm xúc, tâm trạng riêng của con người kể cả bản thân người nghệ sĩ trước cuộc sống” [42, tr. Như vậy, trữ tình là hình thức cơ bản của văn học nghệ thuật, là cách con người thể hiện những cảm nhận chủ quan của mình trước thực tại. “Tác phẩm trữ tình có thể viết bằng thơ hoặc văn xuôi, nhưng thơ vẫn là hình thức tổ chức ngôn từ phù hợp nhất với nó” [26, tr.
Ta nên hiểu về khái niệm thơ trữ tình như thế nào cho chính xác? Theo Từ điển thuật ngữ văn học, thơ trữ tình là “thuật ngữ chỉ chung các thể thơ thuộc loại trữ tình, trong đó những cảm xúc suy tư của nhà thơ hoặc nhân vật trữ tình trước đời sống được thể hiện trực tiếp (…) Là tiếng hát tâm hồn, thơ trữ tình có khả năng biểu hiện những cảm xúc phức tạp của thế giới nội tâm từ các cung bậc tình cảm cho tới những chính kiến những tư tưởng triết học” [26, tr. 11 Tìm hiểu những định nghĩa trên, ta có thể thấy, thơ trữ tình lấy nguyên tắc chủ quan làm nguyên tắc cơ bản trong việc chiếm lĩnh hiện thực và quy định những đặc điểm cốt yếu của mình. Trong đó “cái tôi trữ tình giữ một vị trí đặc biệt vì nó là nguồn trực tiếp duy nhất của nội dung tác phẩm” [26, tr. Trong đời sống cũng như trong nghệ thuật, cái tôi của mỗi người sẽ chi phối, điều khiển mọi hành vi, hoạt động và sáng tạo.
Điều này như H. Becxông đã nói, trong mỗi người đều có hai cái tôi: cái tôi bề mặt và cái tôi bề sâu. Theo đó có thể khẳng định, thế giới nghệ thuật là vương quốc của cái tôi bề sâu. Những tác phẩm nghệ thuật ra đời với tư cách là sản phẩm của hoạt động nghệ thuật chính là kết quả của cái tôi bề sâu, chính xác hơn là kết quả của sự xâm nhập của cái tôi ý thức vào cái tôi sâu thẳm để vươn tới một cái tôi cao hơn: cái tôi nghệ thuật.
Nếu như trong tác phẩm tự sự, cái tôi nghệ thuật bộc lộ gián tiếp qua những hình tượng nhân vật, trong tác phẩm kịch được bộc lộ gián tiếp qua các xung đột, hành động kịch thì trong tác phẩm trữ tình, cái tôi nghệ thuật ấy được bộc lộ một cách trực tiếp. Cái tôi trữ tình chính là một biểu hiện cụ thể của cái tôi nghệ thuật, thể hiện thế giới chủ quan, thế giới tinh thần của chủ thể trữ tình. Nguyên tắc chủ quan, như trên đã nói, là nguyên tắc cơ bản trong phương thức sáng tạo của thơ trữ tình. Nguyên tắc ấy thể hiện ở việc nhận thức, lý giải, đánh giá và tái hiện đời sống thông qua cảm nhận của chủ thể trữ tình.
Thơ trữ tình là sự thể hiện ý thức xã hội - lịch sử - thẩm mỹ thông qua kinh nghiệm một cá nhân, trong đó, ý thức của chủ thể, tức cái tôi trữ tình chính là lăng kính chuyển đổi một cách đặc biệt thế giới khách quan thành một thế giới riêng biệt, độc đáo: thế giới trữ tình. Vậy nên thơ là “tả cảnh ngụ tình”, là thể hiện cái tình trong cảnh, những “cảnh”; những “sự” trong thơ không còn đơn thuần là cảnh, sự trong hiện thực khách quan nữa mà là tâm cảnh, ý cảnh, tâm sự, cảm xúc của tác giả. 12 Như vậy, cái tôi trữ tình thực chất chính là thế giới chủ quan, thế giới tinh thần của con người được thể hiện trong tác phẩm trữ tình bằng các phương thức trữ tình. Nó là nguồn gốc, là nội dung, đối tượng, đồng thời cũng là bản chất của tác phẩm trữ tình.
Tuy nhiên đối với khái niệm này, hiện nay vẫn tồn tại hai cách hiểu với phạm vi khác xa nhau. Theo nghĩa hẹp, nó là hình tượng cái tôi cá nhân cụ thể, cái tôi tác giả gắn liền với cuộc đời tác giả, với cảm xúc riêng tư, là một loại nhân vật trữ tình. Hiểu theo nghĩa rộng, nó là nội dung thẩm mĩ của các tác phẩm trữ tình, là một nội dung, một phẩm chất, đồng thời cũng là đối tượng của thế giới trữ tình, có tác dụng phân biệt trữ tình với các thể loại khác. Nói một cách khác, Cái tôi trữ tình là biểu hiện tập trung của tính chủ quan trong thơ trữ tình.
Bản chất chủ quan của chủ thể trữ tình thể hiện ở nguyên tắc tiếp nhận và tái hiện đời sống thông qua toàn bộ nhân cách của con người trữ tình. Ở đây, cá tính nhân vật trữ tình với phong thái, ấn tượng, sự độc đáo chiếm vị trí chủ đạo và người đọc, thông qua đó để lĩnh hội thế giới. Cuộc sống sẽ được nhận thức, lý giải thông qua lăng kính cảm xúc của nhân vật trữ tình. Tác giả luận văn hiểu và sử dụng khái niệm cái tôi trữ tình theo nghĩa rộng, một khái niệm có tính phổ quát, thể hiện bản chất chủ quan của thể loại trữ tình, từ đó soi chiếu vào một cái tôi cụ thể – cái tôi trong thơ Nguyễn Duy.
Bản chất của cái tôi trữ tình a) Bản chất xã hội - tâm lý của cái tôi trữ tình Cái tôi trữ tình là một cấu trúc mang bản chất xã hội. Trong đời sống, mỗi cá nhân đều tồn tại trong vô vàn các mối quan hệ khác nhau của xã hội, thông qua đó cái tôi cũng được hình thành và khẳng định.Mac trong cuốn sách “Bản thảo kinh tế triết học” đã khẳng định: “Chỉ có trong xã hội, tồn tại tự nhiên của con người mới là tồn tại có tính chất người. Tồn tại bản thân tôi cũng là hoạt động xã hội, khi tôi có ý thức về tôi như một thực 13 thể xã hội" [36, tr. Chính các bình diện của đời sống xã hội như truyền thống, văn hóa, đạo đức, lịch sử, triết học, thẩm mỹ.
sẽ chi phối bản chất tâm lý - xã hội trong cấu trúc cái tôi. Cái tôi có sức dung chứa và khả năng phản ánh mọi mặt của đời sống, người nghệ sĩ càng có đời sống phong phú thì cái tôi được thể hiện trong văn học lại càng đa dạng và sâu sắc. Chính vì cái tôi trữ tình luôn chịu tác động lớn từ hiện thực nên một nhà thơ, nhà văn luôn chịu những tác động của thời đại mình đang sống. Là một cấu trúc mang bản chất xã hội, tất yếu cái tôi trữ tình cũng mang một giá trị xã hội.
Trong cuộc sống, mỗi cá nhân luôn phải tích cực khẳng định mình trong các mối quan hệ và các tiêu chuẩn của đời sống như một chủ thể sáng tạo. Khi nỗ lực hoạt động và sáng tạo, mỗi chủ thể có thể góp phần thay đổi các yếu tố khác của cấu trúc xã hội. Chẳng hạn, chính sự tích cực thể hiện của những cái tôi trữ tình khác lạ, độc đáo vào những năm 30 của thế kỷ XX ở nước ta đã tạo nên một trào lưu văn học lãng mạn mà đỉnh cao là phong trào Thơ mới (1932 – 1945) đã tạo một bước ngoặt của tư duy thơ Việt Nam. Sự tích cực chủ động sáng tạo của cái tôi trữ tình luôn mang tính lịch sử và có nguồn gốc từ hiện thực đời sống, nên đời sống của cái tôi cũng luôn vận động, phát triển không ngừng.
cái tôi trữ tình không bao giờ là một thế giới khép kín, nhỏ bé và hạn hẹp.