Chương 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về hình sự hóa Chương 2. Thực trạng hình sự hóa trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 Chương 3. Kiến nghị về hình sự hoá góp phần hoàn thiện Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015.
Luận văn thạc sĩ Luật học 6 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HÌNH SỰ HÓA 1. Chính sách về tội phạm và hình phạt Chính sách về tội phạm và hình phạt là một bộ phận cấu thành của chính sách hình sự, là tổng hợp toàn bộ các quan điểm, chủ trương, đường lối của chính sách đó trong BLHS quy định về tội phạm và sử dụng hình phạt trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Chính sách về tội phạm và hình phạt phản ánh mức độ phản ứng của Nhà nước, của xã hội đối với tội phạm và người phạm tội thông qua việc xác định hành vi nào là tội phạm và tính chất, mức độ, hình thức xử lý trách nhiệm hình sự. Chính sách về tội phạm, hiểu một cách đơn giản là quan điểm của Nhà nước trong việc xem xét, đánh giá chủ quan dưới góc độ pháp luật những hành vi nguy hiểm xảy ra một cách khách quan trong xã hội [32, tr.
Như vậy, chính sách về tội phạm thể hiện và phụ thuộc trước hết vào các quan niệm và nhận thức về tội phạm. Nhận thức về tội phạm tập trung vào các vấn đề như: tội phạm là gì? Nguyên nhân và điều Luận văn thạc sĩ Luật học kiện của tội phạm? Tại sao con người lại phạm tội? bản chất của tội phạm và cách thức phòng chống tội phạm? Chính sách về tội phạm thể hiện sự phản ứng của Nhà nước, của xã hội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và người thực hiện hành vi phạm tội. Đó là phản ứng chủ quan trước một hiện tượng khách quan. Hình thức phản ứng chủ quan đó có thể đúng đắn, phù hợp với hiện thực khách quan, nhưng cũng có thể không sát, chưa đúng, thậm chí không đúng.
Để có được một cơ sở khách quan cho việc xác định hành vi này hay hành vi khác là tội phạm và phải chịu hình phạt, cần xem xét một số vấn đề: xác định những yếu tố, quá trình hoặc sự thay đổi xã hội nào cần được xem xét khi coi hành vi nào đó có phải là tội phạm hay không; xác định tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của các hành vi phạm tội; mức hình phạt vừa và đủ đối với loại hành vi đó trên cơ sở xem xét các yếu tố, hoàn cảnh điều kiện xã hội có liên quan; xác định tính phổ biến tương đối của các hành vi phạm tội; hệ quả xã hội của việc áp dụng quy định về tội phạm và hình phạt đối với hành vi đó. Từ đó có những chủ trương, giải pháp thích hợp, đúng đắn để xác định phạm vi cần và đủ của sự điều chỉnh bằng pháp luật hình sự. 7 Nói đến tội phạm không thể không nói đến hình phạt và ngược lại nói đến hình phạt không thể không đề cập đến tội phạm. Bởi lẽ, hình phạt đi ra từ tội phạm, cho nên phải quy định tội phạm mới quy định hình phạt và không thể có tội phạm mà không có hình phạt, tội phạm phải có tính chất và mức độ nguy hiểm cao thì hình phạt đối với nó sẽ nghiêm khắc hơn.
Mối liên hệ chặt chẽ giữa tội phạm và hình phạt đã làm cho tính phải chịu hình phạt trở thành một trong những thuộc tính của tội phạm. Rõ ràng, nếu không phải để xác định trách nhiệm hình sự và hình phạt thì việc quy định tội phạm sẽ là vô nghĩa. Như vậy, chính sách về tội phạm gắn liền với chính sách về hình phạt. Chính sách về hình phạt là hệ quả tất yếu của chính sách về tội phạm: đánh giá như thế nào về tội phạm sẽ có mức độ xử lý về trách nhiệm hình sự như thế ấy.
Chính sách về hình phạt thể hiện thái độ của Nhà nước và xã hội trong việc xử lý đối với hành vi phạm tội và người thực hiện hành vi đó. Chính sách về hình phạt có thể là nghiêm trị, có thể là khoan hồng. Tuy nhiên, mức độ, phạm vi nghiêm trị hay khoan hồng cũng phải phản ánh được thuộc tính khách quan của tội phạm. Tính chất nặng nhẹ của hình phạt, tính chất nghiêm trị hay khoan hồng của nóLuận được giớivăn thạc hạn trước sĩ mục hết bởi Luật đích học của hình phạt, tức là mục tiêu được đặt ra khi xây dựng và áp dụng hình phạt.
Xác định đúng mục đích của hình phạt cũng là một trong những điều kiện cần thiết cho việc hoạch định và triển khai chính sách hình sự. Chính sách về hình phạt của Nhà nước thể hiện thái độ của Nhà nước, của xã hội “nghiêm trị” đối với các loại hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Phương châm đấu tranh chống tội phạm của Nhà nước ta là lấy thuyết phục, giáo dục làm chính, tăng cường các hoạt động phòng ngừa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên một cách cô đọng như sau: “Lầm lỗi có việc to việc nhỏ.
Nếu nhất luật không xử phạt tù thì sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại. Vì vậy, hoàn toàn không dùng xử phạt là không đúng. Mà chút gì cũng dùng đến xử phạt cũng không đúng” [50, tr. Phương châm đó đã được ghi nhận tại Điều 3 BLHS năm 2015, theo đó “nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; nghiêm trị người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;… 8 nghiêm trị pháp nhân thương mại phạm tội dùng thủ đoạn tinh vi, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng…”.
Mặt khác “khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra;… khoan hồng đối với pháp nhân thương mại tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại gây ra, chủ động ngăn chặn hoặc khắc phục hậu quả xảy ra…” [30, tr. Chính sách này được quán triệt trong toàn bộ các quy định về trách nhiệm hình sự và hình phạt, cũng như trong toàn bộ quá trình để thực hiện chính sách hình sự có sự phân biệt và phân hoá giữa các loại hành vi và loại người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội. Việc sử dụng pháp luật hình sự để đấu tranh chống các hành vi nguy hiểm cho xã hội đều xuất phát từ nhu cầu bảo vệ các quan hệ tiến bộ của xã hội. Tính nguy hiểm cho xã hội của một loại hành vi này hay loại hành vi khác luôn luôn được xác định, đánh giá từ Luận góc độ lợivăn ích củathạc sĩ Luật Nhà nước học và của nhân dân, của việc tăng cường và phát triển các quan hệ xã hội mới tiến bộ.
Việc nhận thức đúng chính sách về tội phạm và hình phạt là bước thứ nhất, còn vấn đề cơ bản, mấu chốt là làm thế nào để chuyển hóa, triển khai, quy định nó thành những quy phạm, chế định pháp luật cụ thể trong BLHS. Chính sách về tội phạm và hình phạt chỉ có thể được chuyển tải, cụ thể hoá, thể chế hoá vào PLHS bằng con đường tội phạm hóa, phi tội phạm hóa, hình sự hóa, phi hình sự hóa. Trong số đó, hình sự hóa cùng với phi hình sự hoá là những biện pháp để thể chế hóa chính sách hình sự về hình phạt. Quá trình này tạo cơ sở pháp lý cho việc vận dụng, thực hiện chính sách đó trong đời sống xã hội.
Việc đánh giá hiệu quả chính sách về hình phạt là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn. Việc đánh giá này phải dựa trên cơ sở tổng kết thực tiễn, xem xét những vấn đề đặt ra để điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện. Khái niệm về hình phạt, hình sự hóa và các hình thức thực hiện hình sự hóa 1. Khái niệm về hình phạt Hình phạt là một trong những chế định quan trọng nhất của luật hình sự.
Vì hình phạt không những trực tiếp tác động đến người phạm tội, ngăn ngừa họ phạm tội mới mà còn có tính chất răn đe, giáo dục người khác. Chính vì thế, nhiều nhà khoa học ở nước ta đã đưa ra chính kiến của mình về khái niệm quan trọng này, chẳng hạn: GS.TS Võ Khánh Vinh có quan điểm: “Hình phạt là biện pháp cưỡngchế do Tòa án quyết định trong bản án đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm và được thể hiện ở việc tước đoạt hoặc hạn chế các quyền lợi ích do luật quy định đối với người bị kết án” [47].TS Nguyễn Ngọc Hòa và TS Lê Thị Sơn có quan điểm: “Hình phạt biện pháp cưỡng chế nhà nước được luật hình sự quy định và do tòa án áp dụng có nội dung tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội nhằm trừng trị, giáo dục họ, cũng như nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm” [19].TSKH Lê văn Văn Cảm thạcđiểm: có quan sĩ Luật học “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quyết định trong các bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án để tước bỏ hay hạn chế quyền, tự do của người bị kết án theo các quy định của pháp luật hình sự” [7, tr. Chính nhờ có sự phát triển của khoa học luật hình sự ở nước ta mà trong lần pháp điển hóa lần thứ hai với việc thông qua BLHS năm 1999, khái niệm hình phạt lần đầu tiên được nhà làm luật chính thức ghi nhận tại Điều 26 BLHS năm 1999.