đặt vấn đề giải quyết trách nhiệm pháp lý của họ trong mối quan hệ với trách nhiệm giáo dục, quản lý của xã hội, của gia đình và nhà trường trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người dưới 18 tuổi. Các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm. Chính vì vậy, viêc xử lý những hành vi phạm tội do người dưới 18 tuổi thực hiện cần phải được xem xét kỹ lưỡng để có biện pháp phù hợp và thể hiện được tinh thần nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam cũng như phù hợp với tinh thần Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em. Nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình xây dựng cũng như áp dụng các quy định của pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự, các văn bản có liên quan đến người dưới 18 tuổi phạm tội.
Căn cứ vào các chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta về cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm và dựa trên cơ sở những kinh nghiệm trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam, nhà làm luật đã quy định một cách toàn diện và thống nhất đường lối xử lý về hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại một chương riêng của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017, Chương XII – Phần những quy định chung). 8 Nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại Điều 91 BLHS năm 2015 (trước đây là Điều 69 BLHS năm 1999) thể hiện đầy đủ quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo vệ người dưới 18 tuổi bao gồm 07 nguyên tắc này [21], cụ thể như sau: Nguyên tắc thứ nhất: Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải đảm bảo lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và nhằm mục giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa những sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử của dưới 18 tuổi, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra phạm tội. Việc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là nhằm giáo dục họ ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng các quy tắc của xã hội, giúp họ nhận ra và sửa chữa những sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội.
Đây là nguyên tắc cơ bản và bao trùm xuyên suốt toàn bộ chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và được thể hiện trong quá trình xử lý các vụ án mà bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi. Do chưa phát triển và hoàn thiện về các mặt, cho nên không phải bất cứ trường hợp phạm tôi cụ thể nào người dưới 18 tuổi cũng có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tức là có khả năng nhận thức đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện và hậu quả của nó cũng như khả năng điều khiển hành vi đó. Vì thế, luật hình sự Việt Nam đòi hỏi trong quá trình tố tụng, các cơ quan và người tiến hành tố tụng cần áp dụng các biện pháp phù hợp nhằm xác định chính xác mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Ngoài ra, cần làm rõ khả năng nhận thức của người dưới 18 tuổi về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện phạm tội, thiệt hại do tội phạm gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Chỉ khi làm rõ những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ nguy hiểm của hành vi và nhân thân người phạm tội thì cơ quan tư pháp và người người tiến hành tố tụng mới có thể giúp họ nhận thức được sai lầm, để từ đó có thể giáo dục, uốn nắn những hành vi không phù hợp, làm cho họ tự giác sửa chữa để trở thành công dân có ích cho xã hội. 9 Nguyên tắc thứ hai: Người dưới 18 tuổi vi phạm thuộc một trong các trường hợp quy định trong Bộ luật hình sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả, nếu không thuộc trường hợp đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp giám sát, giáo dục được quy định riêng cho những đối tượng này. Miễn trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội có nghĩa là miễn bị truy cứu trách nhiệm hình sự và đương nhiên kéo theo là miễn phải chịu các hậu quả tiếp theo do sự thực hiện trách nhiệm hình sự từ phía Nhà nước đem lại. Như vậy, để có thể được miễn trách nhiệm hình sự trong trường hợp này cần có những điều kiện sau: Một là, người phạm tội là người dưới 18 tuổi.
Theo quy định của BLHS hiện hành, người dưới 18 tuổi phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS và họ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình theo quy định của pháp luật hình sự. Hai là, tội phạm do người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ tội phạm quy định tại các điều 134, 141, 171, 248, 249, 250, 251 và 252 của BLHS năm 2015; Tội phạm do người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 12 của BLHS năm 2015, trừ tội phạm quy định tại các điều 123, 134, 141, 142, 144, 150, 151, 168, 171, 248, 249, 250, 251 và 252 của Bộ luật này; Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án. Ba là, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là những tình tiết thuộc về mặt khách quan, chủ quan của tội phạm, phản ánh nhân thân người phạm tội hoặc chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự mà sự xuất hiện của nó còn làm giảm tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, người phạm tội và kết quả là làm giảm tính chất, mức độ nghiêm khắc của trách nhiệm hình sự, chủ thể được miễn trách nhiệm hình sự, được miễn hình phạt, được xử lý theo tội danh nhẹ hơn, khung hình phạt nhẹ hơn hoặc mức hình phạt thấp hơn.
Theo nguyên tắc này đòi hỏi người phạm tội phải có ít nhất từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên. 10 Bốn là, người phạm tội được gia đình, cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục. Luật không quy định trường hợp nào thì gia đình giám sát, giáo dục; trường hợp nào thì cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục. Vì vậy, tùy từng trường hợp mà quyết định ai là giáo sát, giáo dục, cụ thể là: nếu người phạm tội đang sinh sống với gia đình, thì phải được gia đình nhận giám sát, giáo dục; trường hợp người phạm tội không ở với gia đình như đi làm ở cơ quan, tổ chức.
thì phải được cơ quan tổ chức nhận giám sát, giáo dục. Nguyên tắc thứ ba: Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người dưới 18 tuổi bị phạm tội chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào những đặc điểm về nhân thân của họ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm. Theo nguyên tắc này thì các cơ quan tiến hành tố tụng có thể áp dụng các biện pháp xử lý khác khi thấy không cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Trường hợp cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi thì không có nghĩa là phải áp dụng hình phạt đối với họ mà có thể áp dụng các biện pháp tư pháp khác và thậm chí trong một số trường hợp là miễn hình phạt đối với họ.
Tính chất hành vi phạm tội được hiểu là căn cứ vào mức độ nghiêm trọng của hành động phạm tội làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm, gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm qua việc chủ thể thực hiện một việc bị pháp luật cấm [35, tr. Nhân thân người phạm tội trong luật hình sự được hiểu là tổng hợp những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn về trách nhiệm hình sự của người phạm tội nên việc truy cứu trách nhiệm hình sự cũng cần phải xét đến yếu tố nhân thân người phạm tội. Nhân thân bao gồm nhiều mặt, thể hiện những đặc điểm, đặc tính xã hội khác nhau, thể hiện tính cá biệt và tính không lặp lại của mỗi con người cụ thể. Nguyên tắc thứ tư: Khi xét xử, Tòa án chỉ áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nếu xét thấy việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp giám sát, giáo dục hoặc việc áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng được quy định riêng cho những đối tượng này không bảo đảm 11 hiệu quả giáo dục, phòng ngừa.
Theo nguyên tắc này việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ được đặt ra khi nó thật sự cần thiết, việc xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi chỉ là biện pháp cuối cùng khi các biện pháp xử lý khác của Nhà nước không còn hiệu quả. Trong trường hợp có những biện pháp xử lý khác khoan hồng mà không cần áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thì ưu tiên áp dụng các biện pháp này. Các biện pháp tư pháp như giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng là các biện pháp mang tính giáo dục và nếu người phạm tội được áp dụng thì không bị coi là có án tích.