chương 1, tác giả đã trình bày về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, nội dung nghiên cứu, đóng góp của đề tài nghiên cứu và cuối cùng là kết cấu của luận văn. Chương kế tiếp tác giả tiếp tục trình bày về cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan về thị trường chứng khoán cơ sở và thị trường chứng khoán phái sinh. Trên cơ sở đó, tác giả sẽ tiến hành xây dựng quy trình nghiên cứu và kiểm định giả thuyết, đề xuất để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu của đề tài. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm liên quan 2. Thị trường chứng khoán cơ sở Theo Teweles (1998) Chứng khoán là chứng nhận quyền sở hữu hợp pháp của người sở hữu với tài sản hoặc phần vốn của công ty hay tổ chức đã phát hành. Chứng khoán có thể là hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hay dữ liệu điện tử. Chứng khoán bao gồm các loại như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ,… Chứng khoán cũng được coi là một phương tiện hàng hóa trừu tượng có thể thỏa thuận và có thể thay thế được, đại diện cho một giá trị tài chính.
Theo Nasdaq, thị trường chứng khoán cơ sở hay còn gọi là thị trường giao ngay (spot price) là thị trường mà giá hiện tại của hàng hóa hay công cụ tài chính được giao dịch ngay lập tức. Giá giao ngay là giá thị trường hiện tại của hàng hóa, sản phẩm tài chính hoặc sản phẩm phái sinh. Nhà giao dịch có thể mua hoặc bán tài sản hoặc tài sản bảo đảm nhất định để giao ngay với mức giá vào thời điểm hiện tại và người bán sẽ giao chứng khoán ngay tại thời điểm đó. Giá giao ngay được xác định bởi số lượng người mua và người bán quan tâm đến việc giao dịch chứng khoán đó.
Tại bất kỳ thời điểm nào, lực cung và cầu trên thị trường đều đóng vai trò thiết yếu trong việc xác định giá thị trường tạo ra một mối quan hệ cung cầu. Giá của thị trường chứng khoán cơ sở rất khác với giá HĐTL hoặc hợp đồng kỳ hạn vì chúng được thỏa thuận theo giá dựa trên một số thỏa thuận. Đối với hàng hóa, giá giao ngay được cộng với chi phí lưu kho và một số chi phí hữu hình khác. Mặt khác, đối với các sản phẩm tài chính như HĐTL - giá giao ngay được cộng với giá vốn của sản phẩm đó dựa trên lãi suất phi rủi ro.
Giá giao ngay phản ánh sự nhận định về một chứng khoán cụ thể nào đó trên thị trường. Điều này có thể được kiểm tra thông qua độ sâu và lượng người mua bán tại một khoảng thời gian cụ thể. Đối với bất kỳ hàng hóa, chứng khoán hoặc bất kỳ loại sản phẩm tài chính nào khác, 9 giá giao ngay là con số quan trọng hàng đầu. Bất kỳ tính toán giá của tài sản nào cũng phải thực hiện dựa trên giá hiện tại làm giá tham chiếu.
Hơn nữa, giá giao ngay có thể được nghiên cứu để xác định xu hướng thị trường, xác định cơ hội kinh doanh chênh lệch giá hoặc bất kỳ hình thức định giá phái sinh nào khác. Trên thực tế, các nhà giao dịch trên khắp thế giới đều tập trung nghiên cứu giá của thị trường giao ngay, không chỉ giá hiện tại mà còn trong 3-4 năm sau đó để xác định xu hướng giá hàng hóa trong tương lai. Thị trường chứng khoán phái sinh Thị trường chứng khoán phái sinh xuất hiện từ lâu đời, được chuẩn hóa và phổ biến rộng rãi vào năm 1848 khi Hội đồng Thương mại Chicago (CBOT) thành lập, mục đích thị trường chứng khoán phái sinh là đưa nông dân và các thương gia mua bán với nhau. Ban đầu, nhiệm vụ chính của thị trường này là tiêu chuẩn hóa số lượng và phẩm chất của các loại ngũ cốc được mua bán.
Tiếp đến là sự ra đời của sàn giao dịch kỳ hạn đối thủ, Chicago Mercantile Exchange (CME), được thành lập vào năm 1919 và ngày nay, song song với thị trường chứng khoán cơ sở thì có rất nhiều thị trường chứng khoán phái sinh tồn trên toàn thế giới. Hull (2003), thị trường chứng khoán phái sinh là thị trường mà tập trung nhiều cá nhân giao dịch các hợp đồng đã được các sàn giao dịch tiêu chuẩn hóa. Sản phẩm chứng khoán phái sinh là các công cụ tài chính mà giá trị của chúng phụ thuộc vào giá của một tài sản cơ sở được quy định quyền lợi và/hoặc nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng đối với việc thanh toán và/hoặc chuyển giao tài sản cơ sở với một mức giá được thỏa thuận trước vào một thời điểm nhất định trong tương lai. Tài sản cơ sở của chứng khoán phái sinh có thể là hàng hóa như nông sản, kim loại hoặc công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, lãi suất, … 1 Chứng khoán phái sinh Hợp đồng Hợp đồng Hợp đồng Hợp đồng kỳ hạn tương lai quyền chọn hoán đổi Hình 2.1: Các sản phẩm chứng khoán phái sinh (Nguồn: Theo John C.
Hull, (2003), Options, Futures, and other Derivatives) Chứng khoán phái sinh bao gồm 4 loại chính: - Hợp đồng kỳ hạn: là một sản phẩm phái sinh tương đối đơn giản của chứng khoán phái sinh. Hợp đồng kỳ hạn là thỏa thuận giữa hai bên tham gia để mua và bán một loại tài sản tại một thời điểm nhất định trong tương lai với mức giá được xác định ở thời điểm hiện tại. Nó có thể trái ngược với hợp đồng giao ngay, là một thỏa thuận mua hoặc bán một tài sản gần như ngay lập tức, theo John C. - HĐTL: giống như hợp đồng kỳ hạn, HĐTL là sự thỏa thuận giữa hai bên về việc mua hoặc bán một tài sản tại một thời điểm nhất định trong tương lai với một mức giá nhất định.
Không giống như hợp đồng kỳ hạn, HĐTL thường được giao dịch trên một sàn giao dịch. Để có thể thực hiện giao dịch, sàn giao dịch chỉ định các tính năng được tiêu chuẩn hóa nhất định của hợp đồng, niêm yết và giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán. Vì hai bên tham gia hợp đồng không nhất thiết phải biết nhau, nên Sở giao dịch sẽ thiết lập một cơ chế cung cấp cho hai bên sự đảm bảo tuân thủ giá và thời gian thanh toán hợp đồng sẽ được tôn trọng, John C. - Hợp đồng quyền chọn: người nắm giữ hợp đồng quyền chọn có quyền nhưng không có nghĩa vụ mua hoặc bán một loại tài sản cơ sở tại một thời điểm nhất định trong tương lai theo mức giá được xác định trước.
Người bán hợp đồng có nghĩa vụ thực hiện giao dịch khi người nắm giữ hợp đồng chọn thực hiện quyền. Quyền chọn: được giao dịch trên cả sàn giao dịch và thị trường mua bán tự do. Có hai loại quyền chọn. Quyền chọn mua cung cấp cho người nắm giữ quyền mua tài 1 sản cơ bản vào 1 một ngày nhất định với một mức giá nhất định.
Quyền chọn bán cung cấp cho người nắm giữ quyền bán tài sản cơ bản vào một ngày nhất định với một mức giá nhất định. Giá trong hợp đồng được gọi là giá thực hiện hoặc giá thực hiện; ngày trong hợp đồng được gọi là ngày hết hạn hoặc ngày đáo hạn. Quyền chọn kiểu Mỹ có thể được thực hiện bất kỳ lúc nào cho đến ngày đáo hạn. Quyền chọn kiểu Châu Âu chỉ có thể được thực hiện vào chính ngày đáo hạn, John C.
Hull (2003) - Hợp đồng hoán đổi: Hợp đồng hoán đổi là một thỏa thuận giữa hai bên về việc hoán đổi các dòng tiền phát sinh từ các công cụ tài chính trong tương lai. Hợp đồng sẽ quy định rõ thời điểm hoán đổi dòng tiền và phương pháp tính toán cụ thể. Vai trò của chứng khoán phái sinh Quản lý rủi ro Sản phẩm phái sinh cho phép nhà đầu tư chuyển giao rủi ro cho người sẵn sàn chấp nhận rủi ro đó như là là một sự phân phối rủi ro. Do giá chứng khoán phái sinh liên quan mật thiết đến giá tài sản cơ sở trên thị trường giao ngay, nên có thể sử dụng chứng khoán phái sinh để giảm thiểu hoặc tăng mức độ rủi ro khi nắm giữ các tài sản giao ngay.
Ví dụ, việc mua một tài sản giao ngay và bán một HĐTL hoặc một quyền chọn mua sẽ làm giảm rủi ro của nhà đầu tư. Nếu giá hàng hóa giảm, giá của HĐTL hoặc quyền chọn cũng giảm. Khi đó, nhà đầu tư có thể mua lại hợp đồng với mức giá thấp hơn, thu được một khoản lãi ít nhất có thể bù đắp một phần khoản lỗ từ việc mua tài sản giao ngay. Loại giao dịch này được gọi là phòng ngừa rủi ro.
Việc thêm các công cụ giúp nhà đầu tư phòng ngừa rủi ro khi giá chứng khoán biến động sẽ củng cố lòng tin cho thị trường, giúp các tổ chức, cá nhân yên tâm hơn khi đầu tư vào thị trường chứng khoán nói riêng và nền kinh tế nói chung. Cơ hội đầu tư sinh lợi cao Sử dụng đòn bẩy tài chính: Đặc trưng của sản phẩm phái sinh là chi phí để sở hữu chúng thường thấp hơn giá trị của tài sản cơ sở rất nhiều chỉ với mức ký quỹ yêu cầu, nhưng sản phẩm phái sinh lại cho phép người dùng ghi nhận lợi nhuận hệt như 1 đang nắm giữ tài sản cơ sở (tại thời điểm hợp đồng phái sinh đáo hạn, hoặc bên có nghĩa vụ thực hiện thanh lý hợp đồng). Với mức ký quỹ hiệu ứng đòn bẩy khi đầu tư CKPS sẽ cao hơn rất nhiều so với đòn bẩy của chứng khoán cơ sở. Giúp giá của tài sản cơ sở được xác định hợp lý hơn Cơ chế tác động giá giữa thị trường phái sinh và thị trường cơ sở giúp giá tài sản cơ sở trên thị trường phản ánh được nhu cầu giao dịch của nhà đầu tư trong tương lai.
Giá HĐTL và hợp đồng kỳ hạn cũng hàm chứa thông tin về việc người ta kỳ vọng về mức giá giao ngay trong tương lai của tài sản cơ sở như thế nào. Thực ra, giá giao ngay cũng có thể chứa đựng nội dung tương tự nhưng việc xác định được thông tin đó từ thị trường giao ngay khó thực hiện hơn so với thông tin từ thị trường HĐTL. Ngoài ra, trong hầu hết mọi trường hợp, giao dịch trên thị trường HĐTL thường diễn ra sôi động hơn, do đó thông tin tiếp nhận được từ thị trường này thường đáng tin cậy hơn so với thông tin trên thị trường giao ngay.