CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Nụ cười và thẩm mỹ nụ cười Nhu cầu làm đẹp ngày càng tăng trong xã hội khi mọi người đều đang tìm kiếm sự cải thiện thẩm mỹ của nụ cười. Một nụ cười hài hoà có thể đem đến sự tự tin và mang lại nhiều hơn các cơ hội trong cuộc sống. Vào thế kỷ trước, nhà khoa học Alfred Yarbus [66] khi phân tích các bức ảnh trên khuôn mặt, mọi người có xu hướng tập trung sự chú ý chủ yếu vào khuôn miệng.
Giả thuyết này được giải thích không chỉ bởi đặc tính “động” của miệng và mắt so với các cấu trúc “tĩnh” khác của khuôn mặt, mà còn bởi sự tương phản của màu sắc: trong miệng – giữa môi, mô nướu, răng. Và bởi vì miệng là trung tâm chú ý của khuôn mặt, nụ cười đóng một vai trò thiết yếu trong thẩm mỹ khuôn mặt. Tuy nhiên, việc đánh giá lâm sàng của các bác sĩ răng hàm mặt đối với một nụ cười đẹp và việc lên kế hoạch điều trị thẩm mỹ nụ cười vẫn còn là khó khăn và đầy thách thức. Vì lẽ đó, tiêu chuẩn đánh giá nụ cười giúp cho việc điều trị của nha sĩ được thực tế và đơn giản hơn, bao gồm các tiêu chuẩn chính như sau.
Lộ nướu Đánh giá số lượng răng và mô nướu lộ trong khu vực thẩm mỹ là rất quan trọng đối với thẩm mỹ nụ cười. Theo Tjan và cộng sự [67], lộ nướu được xác định bởi đường cười được phân loại là cao, trung bình hoặc thấp (Hình 1. Trong đó, đường cười cao có đặc điểm bộc lộ hoàn toàn chiều cao thân răng lâm sàng đi kèm với dải nướu lộ; đường cười trung bình cho phép 75% - 100% chiều cao thân răng lộ ra khi cười và nhìn thấy vùng gai nướu giữa hai răng; đường cười thấp thể hiện ít hơn 75% thân răng và không có nướu lộ. 1: Mức độ lộ nướu: cao – trung bình – thấp [36].
Theo các nghiên cứu về mức độ lộ nướu khi cười gần đây, cho thấy lộ nướu nhiều hơn 3 mm được xem là kém thẩm mỹ. Mức độ lộ nướu nhiều nhất có thể cho phép là 3 mm [28, 64]. Tỉ lệ giữa các răng cửa trước Đặc điểm này được xem xét rộng rãi trong nha khoa và dựa trên “tỉ lệ vàng” được đề xuất bởi Levin vào năm 1978 [30]. Theo tác giả, ở góc nhìn chính diện, tồn tại một tỉ lệ chuẩn giữa chiều rộng của các răng cửa trước hàm trên (Hình 1.2), trong đó chiều rộng răng cửa bên chiếm 62% chiều rộng răng cửa giữa, trong khi chiều rộng răng nanh chiếm 62% chiều rộng răng cửa bên (khi nhìn thẳng trực tiếp).
Một nghiên cứu được công bố gần đây [11] đã so sánh một số tỉ lệ khác nhau, chẳng hạn như 57% (có đặc điểm là răng cửa bên hẹp hơn), 67%, 70% và 72% (có răng cửa bên rộng hơn). Trên thực tế cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa, tỉ lệ 62% này là một giá trị trung bình chứ không phải một tiêu chuẩn được đưa ra để bắt buộc lâm sàng làm theo. 2: Tỉ lệ vàng giữa các răng [36] Răng cửa hàm trên đạt thẩm mỹ khi tỉ lệ chiều cao và chiều rộng của thân răng cửa giữa được điều chỉnh. Bác sĩ lâm sàng phải đo đạc chiều rộng và chiều cao của răng cửa giữa hàm trên để xác định tỉ lệ chiều rộng/chiều cao.
Sau đó, cần xem xét lập kế hoạch để đưa thân răng này về tỉ lệ 75 – 85% được coi là thẩm mỹ nhất (Hình 1. Giá trị đạt tỉ lệ 75%, răng cửa giữa nhìn sẽ dài hơn, thon thả hơn và được đa số phái nữ đồng ý, trong khi ở tỉ lệ 85%, răng cửa sẽ rộng hơn, to hơn và được chấp nhận bởi nam giới nhiều hơn. 3: Tỉ lệ khác nhau của các răng cửa giữa [36] Theo mẫu số chung về tỉ lệ quy đổi, răng cửa giữa đạt thẩm mỹ thường có chiều cao thân răng đạt từ 9,5 – 11 mm [15, 55]. Bên cạnh đó, sự cân xứng giữa hai răng cửa giữa cũng là khía cạnh quan trọng.
Vì trong nụ cười, hai răng cửa trước gây ấn tượng mạnh vào mắt người đối diện, nên bất kỳ sự không cân xứng nào của hai răng cửa giữa đều có thể dễ dàng phát hiện. Đường viền nướu Mô nướu phải được tính đến trong điều trị thẩm mỹ. Thuật ngữ "thẩm mỹ hồng" và "thẩm mỹ đỏ" đã được sử dụng để mô tả đường viền nướu. Một số gợi ý cho viền nướu thẩm mỹ lý tưởng: "Viền nướu răng nanh ngang mức với viền nướu răng cửa giữa, trong khi viền nướu răng cửa bên phải nằm dưới một chút" (Hình 1.
Tuy nhiên, lâm sàng vẫn chấp nhận viền nướu các răng cửa giữa và cửa bên cao bằng nhau và thấp hơn viền nướu răng nanh một chút. 4: Các loại đường viền nướu [36]. Đặc điểm hình thái môi trên Môi đóng một vai trò quan trọng trong biểu hiện trên khuôn mặt, đặc biệt là trong hành động mỉm cười, có các đặc điểm của môi liên quan đến thẩm mỹ nụ cười như: chiều dài, độ dày và hướng co của các sợi cơ. Về chiều dài, giá trị trung bình cho môi trên của nam giới là 24 mm và đối với nữ là 20 mm.
Những người có môi trên ngắn < 20mm sẽ có nguy cơ lộ nướu khi cười. Để đánh giá chiều dài môi trên, người ta cần đo khoảng cách giữa điểm ngay dưới chân mũi (Sn) và điểm thấp nhất của của môi trên (St). Độ dài được tính bằng cách đo vuông góc khoảng cách giữa các cấu trúc này (C1’ và C2’) và các hình chiếu của chúng (C1 và C2) theo một đường nằm ngang nối hai đường này (Hình 1. Thường đối với người trẻ thì chiều dài Sn-St sẽ ngắn hơn C1C1’ (Hình 1.
5: Chiều dài môi trên dài, chiều dài môi trên ngắn Môi trên tăng động là kết quả của hoạt động quá mức của các cơ, được xem là đặc điểm chính yếu làm cho mô mềm bị nâng lên quá mức trong khi cười. Nụ cười hình thành trong hai giai đoạn: Trong giai đoạn đầu, môi trên được nâng lên về phía rãnh mũi môi thông qua sự co các cơ nâng, với nguyên uỷ bắt nguồn từ rãnh này và bám tận ở môi. Các bó cơ trung gian giúp nâng môi ở vùng phía răng trước và vùng phía bên răng sau cho đến khi chúng gặp phải sự đề kháng lại từ mô mỡ ở má. Giai đoạn thứ hai, bắt đầu với sự nâng cao hơn của môi và rãnh mũi môi thông qua ba nhóm cơ: cơ nâng môi trên có nguyên uỷ từ phía trong ổ mắt, cơ gò má lớn và các sợi bám phía trên của cơ cười.
Cười lộ nướu 1. Định nghĩa Cười lộ nướu là tình trạng nhìn thấy nhiều mô nướu hơn khi cười. Điều này có thể là bất thường, vì khi cười, răng nên được xem là trung tâm – nếu mô nướu lộ. nhiều hơn mức cho phép sẽ làm giảm đáng kể sự hấp dẫn của nụ cười vì kém tự nhiên, và làm cho răng trông nhỏ bất thường.
Tuy nhiên, cười lộ nướu chỉ là một thuật ngữ lâm sàng, không phải là một chẩn đoán. Có nhiều tác giả nghiên cứu và đưa ra các khái niệm khác nhau về tình trạng này: • Theo Mosby, 2008 cười lộ nướu là tình trạng mô nướu nằm ở vị trí một phần ba phía cổ răng nhiều hơn mức bình thường, kết quả là thân răng lâm sàng ngắn và nướu lộ quá nhiều [8]. • Matthews và cộng sự định nghĩa cười lộ nướu là tình trạng đặc trưng bởi sự lộ nướu quá mức của hàm trên trong khi cười, hay còn được gọi là “đường cười cao” [40]. • Năm 2013, Oliveira và cộng sự định nghĩa cười lộ nướu là tình trạng nướu lộ nhiều hơn 3 mm, trong khi cười tự nhiên [47].
Phân loại Môi trên là cấu trúc giải phẫu che phủ các răng cửa hàm trên khi cười. Theo đó, hình dạng của bờ viền môi trên và mức độ che phủ thân răng hàm trên khi bệnh nhân cười là một trong những yếu tố góp phần tạo ra thẩm mỹ nụ cười. Khái niệm đường cười ra đời nhằm mô tả một đường tưởng tượng cong theo bờ dưới của môi trên trong khi cười. Theo đó, Liebart năm 2004 [32] đã phân loại đường cười trong chuyên ngành nha chu thành 4 loại: • Loại 1: Đường cười rất cao – thấy hơn 2mm nướu viền, hay hơn 2mm từ chóp đến đường nối men – xê măng trong trường hợp bị tụt nướu nhưng mô nha chu khoẻ mạnh.
Loại này còn được gọi là cười lộ nướu (Hình 1. • Loại 2: Đường cười cao – Thấy giữa 0 và 2mm nướu viền, hoặc giữa 0 và 2mm từ chóp đến đường nối men – xê măng. Trong trường hợp tụt nướu nhưng mô nha chu khoẻ mạnh (Hình 1. • Loại 3: Đường cười trung bình – Thấy nướu khoang kẽ răng (Hình 1.
• Loại 4: Đường cười thấp – Không thấy nướu ở khoang kẽ răng lẫn đường nối men – xê măng (Hình 1. 6: Phân loại đường cười [32] Theo nghiên cứu năm 2005 “Vẻ đẹp nụ cười và một số yếu tố ảnh hưởng” của tác giả Nguyễn Thu Thủy, Nguyễn Bích Vân, Hà Thị Bảo Đan [5] thì đường cười loại 2 chiếm 35% và loại 1 là 31%. Năm 1984, Tjan và cộng sự [67] nghiên cứu về các yếu tố thẩm mỹ của nụ cười, theo đó phân loại đường cười thành 3 loại: • Đường cười cao: bộc lộ toàn bộ thân răng trước hàm trên và đường viền nướu (Hình 1. • Đường cười trung bình bộc lộ 75% đến 100% chiều cao thân răng trước hàm trên và gai nướu kẽ răng (Hình 1.
• Đường cười thấp bộc lộ dưới 75% thân răng trước hàm trên (Hình 1. 7: Phân loại đường cười: (A) Đường cười cao; (B) Đường cười trung bình; (C) Đường cười thấp [19] Nghiên cứu của Hunt và cộng sự [23] cho rằng sự hấp dẫn của nụ cười bị ảnh hưởng lớn bởi phần nướu lộ ra trong khi cười. Những nụ cười có độ lộ nướu khoảng 0 – 2 mm sẽ tạo được sự cuốn hút và được đánh giá cao hơn. Độ lộ nướu trong khi cười bình thường vào khoảng 1– 2 mm.
Trong khi độ che phủ của môi trên tăng theo tuổi và do đó, tỉ lệ cười lộ nướu lớn hơn ở nhóm trẻ tuổi và nhỏ hơn ở người lớn tuổi. Ngoài ra còn có sự liên quan đến giới tính, theo đó đường cười thấp chủ yếu được quan sát thấy ở phái nam và đường cười cao thấy nhiều hơn ở phái nữ.