Luận án tiến sĩ kinh tế học hiệu quả phân bổ và một số mô hình đánh giá tác động của các nhân tố đến hiệu quả phân bổ của các doanh nghiệp ngành công nghiệp của việt nam

Luận án tiến sĩ kinh tế học phân tích hiệu quả phân bổ và mô hình đánh giá tác động các nhân tố đến doanh nghiệp ngành công nghiệp Việt Nam.

Chuyên ngành

Kinh Tế Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

172
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan nghiên cứu về các thước đo hiệu quả phân bổ

1.2. Các nghiên cứu nước ngoài

1.3. Các nghiên cứu trong nước

1.4. Tổng quan nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả phân bổ

1.5. Khoảng trống nghiên cứu

1.6. Kết luận Chương 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Cơ sở lý luận về hiệu quả phân bổ

2.2. Khái niệm về hiệu quả phân bổ

2.3. Cơ sở lý luận về hiệu quả phân bổ của doanh nghiệp

2.4. Cơ sở lý luận về hiệu quả phân bổ ngành - vùng

2.5. Khung nghiên cứu của luận án

2.6. Dữ liệu nghiên cứu

2.7. Phương pháp đo lường hiệu quả phân bổ

2.8. Đo lường hiệu quả phân bổ của doanh nghiệp theo phương pháp phân tích bao dữ liệu

2.9. Đo lường hiệu quả phân bổ ngành - vùng theo cách tiếp cận của Olley and Pakes (1996)

2.10. Các mô hình hồi quy đánh giá tác động của các nhân tố đến hiệu quả phân bổ

2.11. Mô hình Tobit đánh giá tác động của các nhân tố đến hiệu quả phân bổ cấp doanh nghiệp được đo lường theo phương pháp DEA

2.12. Mô hình hồi quy đánh giá tác động của các nhân tố đến hiệu quả phân bổ ngành - vùng đo lường theo cách tiếp cận Olley and Pakes (1996)

2.13. Kết luận Chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG VÀ PHÂN BỔ NGUỒN LỰC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH CHẾ BIẾN CHẾ TẠO Ở VIỆT NAM

3.1. Hoạt động của các doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo của Việt Nam

3.2. Thực trạng hoạt động theo quy mô doanh nghiệp

3.3. Thực trạng hoạt động theo loại hình thức sở hữu của doanh nghiệp

3.4. Thực trạng hoạt động theo nhóm ngành kinh tế

3.5. Thực trạng phân bổ vốn và lao động của các doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo ở Việt Nam

3.6. Thực trạng phân bổ nguồn lao động của các doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo ở Việt Nam

3.7. Thực trạng phân bổ nguồn vốn của các doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo ở Việt Nam

3.8. Thực trạng môi trường kinh doanh cấp tỉnh ở Việt Nam

3.9. Kết luận Chương 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG HIỆU QUẢ PHÂN BỔ VÀ CÁC MÔ HÌNH CHỈ ĐỊNH

4.1. Hiệu quả phân bổ của các doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo của Việt Nam

4.2. Hiệu quả phân bổ của doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo đo lường theo phương pháp phân tích bao dữ liệu

4.3. Năng suất và hiệu quả phân bổ ngành - vùng đo lường theo cách tiếp cận của Olley and Pakes (1996)

4.4. Các mô hình phân tích tác động của các nhân tố đến hiệu quả phân bổ của các doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo

4.5. Mô hình Tobit phân tích tác động của các nhân tố đến hiệu quả phân bổ của doanh nghiệp đo lường theo phương pháp DEA

4.6. Mô hình dữ liệu mảng phân tích tác động của các nhân tố đến hiệu quả phân bổ ngành - vùng đo lường theo cách tiếp cận của Olley and Pakes (1996)

4.7. Kết luận chương 4

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Phân bổ hiệu quả

Phân bổ hiệu quả là một khái niệm trung tâm trong nghiên cứu này, được định nghĩa là khả năng doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực một cách tối ưu để đạt được mục tiêu sản xuất. Theo Farrell (1957), hiệu quả phân bổ còn được gọi là hiệu quả về giá, phản ánh mức độ doanh nghiệp kết hợp các yếu tố đầu vào theo tỷ lệ tốt nhất dựa trên giá của chúng. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA) để đo lường hiệu quả phân bổ ở cấp doanh nghiệp, đồng thời áp dụng cách tiếp cận của Olley and Pakes (1996) để đánh giá hiệu quả phân bổ ở cấp ngành - vùng. Các kết quả cho thấy sự khác biệt đáng kể trong hiệu quả phân bổ giữa các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu và trình độ công nghệ khác nhau.

1.1. Khái niệm và phương pháp đo lường

Hiệu quả phân bổ được đo lường thông qua hai phương pháp chính: phân tích bao dữ liệu (DEA) và cách tiếp cận của Olley and Pakes (1996). DEA là phương pháp không tham số, cho phép đánh giá hiệu quả phân bổ dựa trên việc so sánh các đơn vị ra quyết định (DMU) với nhau. Trong khi đó, cách tiếp cận của Olley and Pakes (1996) tập trung vào việc phân tích hiệu quả phân bổ ở cấp ngành - vùng, xem xét mối quan hệ giữa thị phần và năng suất của doanh nghiệp. Cả hai phương pháp đều có ưu điểm riêng và được sử dụng phù hợp với từng cấp độ nghiên cứu.

1.2. Kết quả đo lường

Kết quả đo lường hiệu quả phân bổ cho thấy sự chênh lệch rõ rệt giữa các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (DNFDI) thường đạt hiệu quả phân bổ cao hơn so với doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và doanh nghiệp tư nhân (DNTN). Ngoài ra, các doanh nghiệp áp dụng công nghệ cao (CNC) cũng có hiệu quả phân bổ tốt hơn so với các doanh nghiệp sử dụng công nghệ thấp (CNT).

II. Mô hình đánh giá tác động nhân tố

Nghiên cứu này sử dụng các mô hình đánh giá để phân tích tác động của các nhân tố đến hiệu quả phân bổ. Cụ thể, mô hình Tobit được sử dụng để đánh giá tác động của các nhân tố đến hiệu quả phân bổ ở cấp doanh nghiệp, trong khi mô hình dữ liệu mảng được áp dụng để phân tích tác động ở cấp ngành - vùng. Các nhân tố được xem xét bao gồm quy mô doanh nghiệp, loại hình sở hữu, trình độ công nghệ và môi trường kinh doanh cấp tỉnh.

2.1. Mô hình Tobit

Mô hình Tobit được sử dụng để phân tích tác động của các nhân tố đến hiệu quả phân bổ ở cấp doanh nghiệp. Kết quả cho thấy quy mô doanh nghiệp và trình độ công nghệ có tác động tích cực đến hiệu quả phân bổ. Các doanh nghiệp lớn và áp dụng công nghệ cao thường đạt hiệu quả phân bổ cao hơn. Ngoài ra, môi trường kinh doanh cấp tỉnh cũng có ảnh hưởng đáng kể, với các tỉnh có chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) cao thường có doanh nghiệp đạt hiệu quả phân bổ tốt hơn.

2.2. Mô hình dữ liệu mảng

Mô hình dữ liệu mảng được áp dụng để phân tích tác động của các nhân tố đến hiệu quả phân bổ ở cấp ngành - vùng. Kết quả cho thấy sự phân bổ nguồn lực giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả phân bổ tổng thể. Các tỉnh có sự phân bổ nguồn lực hợp lý và môi trường kinh doanh thuận lợi thường đạt hiệu quả phân bổ cao hơn.

III. Doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam

Nghiên cứu tập trung vào các doanh nghiệp công nghiệp thuộc ngành chế biến chế tạo (CBCT) tại Việt Nam. Đây là nhóm ngành có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, đóng góp đáng kể vào GDP và tạo việc làm cho người lao động. Tuy nhiên, hiệu quả phân bổ của các doanh nghiệp trong ngành này còn nhiều hạn chế, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc cải thiện hiệu quả phân bổ cần tập trung vào nâng cao trình độ công nghệ và cải thiện môi trường kinh doanh.

3.1. Thực trạng hoạt động

Các doanh nghiệp công nghiệp thuộc ngành CBCT tại Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm sự cạnh tranh ngày càng gay gắt và sự thiếu hụt nguồn lực. Nghiên cứu cho thấy các doanh nghiệp lớn và có vốn đầu tư nước ngoài thường có lợi thế hơn trong việc đạt hiệu quả phân bổ cao. Trong khi đó, các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận công nghệ và nguồn vốn.

3.2. Khuyến nghị chính sách

Để cải thiện hiệu quả phân bổ của các doanh nghiệp công nghiệp, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị chính sách, bao gồm hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận công nghệ hiện đại, cải thiện môi trường kinh doanh cấp tỉnh, và khuyến khích đầu tư vào các ngành công nghệ cao. Ngoài ra, cần có các chính sách hỗ trợ tài chính và đào tạo nguồn nhân lực để nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1, luận án trình bày tổng quan nghiên cứu về hiệu quả phân bổ. Trong đó tập trung vào hai nội dung chính là tổng quan nghiên cứu về các thước đo hiệu quả phân bổ và tổng quan nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả phân bổ. Từ đó luận án rút ra được khoảng trống nghiên cứu. Tổng quan nghiên cứu về các thước đo hiệu quả phân bổ Trong các nghiên cứu về hiệu quả phân bổ, thường chỉ tập trung vào xem xét hiệu quả phân bổ của doanh nghiệp nếu muốn xem xét việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, hoặc tập trung vào hiệu quả phân bổ theo ngành - vùng nếu muốn có khuyến nghị chính sách về giảm phân bổ sai.

Như vậy cùng là hiệu quả phân bổ nhưng quan niệm về mỗi loại hiệu quả phân bổ rất khác nhau, vì vậy cách tiếp cận để ước lượng cũng khác nhau. Luận án sẽ trình bày tổng quan các nghiên cứu nước ngoài và tổng quan các nghiên cứu trong nước. Các nghiên cứu nước ngoài 1. Phương pháp đo lường hiệu quả phân bổ của doanh nghiệp “Phép đo hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp được xuất phát từ một bài báo của Farrell (1957), trong đó sử dụng khái niệm hiệu quả được công nhận bởi Koopmans (1951) và thước đo hiệu quả xuyên tâm được xem xét bởi Debreu (1951) để giới thiệu nền tảng cho phân tích hiệu quả có tính đến nhiều yếu tố đầu vào.

Ông phân biệt giữa hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ. Nếu một doanh nghiệp đạt cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ thì nó sẽ đạt hiệu quả chi phí (CE) hay hiệu quả tổng thể, một số tài liệu gọi là hiệu quả kinh tế - EE (Coelli và cộng sự, 2005). Khi mà quá trình sản xuất ở các doanh nghiệp trở nên đạt hiệu quả kỹ thuật, vấn đề về hiệu quả phân bổ sẽ phát sinh (Chukwuji và cộng sự, 2006). Cũng có rất nhiều thước đo khác nhau về hiệu quả phân bổ của doanh nghiệp.

Luận án sẽ xem xét các thước đo hiệu quả phân bổ từ đơn giản đến phức tạp. Đo lường hiệu quả phân bổ của doanh nghiệp theo các cách tiếp cận đơn giản “Hiệu quả phân bổ có thể được diễn tả như một độ đo khả năng doanh nghiệp sử dụng các yếu tố sản xuất trong sự kết hợp tốt nhất được cho là yếu tố giá cả, mà có thể gọi là hiệu quả giá của sản xuất (Farrell and PEARsoN, 1957). Hiệu quả phân bổ có thể được định nghĩa như tỷ số của tổng chi phí sản xuất một đơn vị của một đầu ra với tổng 8 chi phí của việc sản xuất đơn vị đầu ra giống như thế, trong khi sử dụng tối ưu các cách kết hợp các nhân tố đạt hiệu quả kỹ thuật (Chukwuji và cộng sự, 2006).”Một doanh nghiệp được cho là phân bổ hiệu quả nếu tỷ lệ của sản phẩm cận biên (𝑀𝑃𝑋 ) giữa tất cả 𝑀𝑃𝑋𝑖 𝑃𝑖 các đầu vào bằng tỷ lệ giá đầu vào, hay = và do đó khả năng doanh nghiệp sản 𝑀𝑃𝑋𝑙 𝑃𝑙 xuất với tỷ lệ thay thế cận biên của kỹ thuật giữa hai đầu vào bất kỳ trong số các đầu vào của nó là bằng tỷ lệ giá đầu vào tương ứng (Ajibefun and Daramola, 2003). Theo Omonona và cộng sự (2010), phân bổ hiệu quả là một điều kiện để tối đa hóa lợi nhuận.

Bằng cách xem xét chi phí đầu vào trong mối quan hệ với doanh thu dự kiến được tạo nên từ các đầu vào, phương pháp cho chi phí thấp nhất sẽ là hiệu quả nhất (Chukwuji và cộng sự, 2006). Điều kiện tối đa hóa lợi nhuận ở một thị trường cạnh tranh hoàn hảo là một doanh nghiệp phải có khả năng cân bằng sản phẩm giá trị cận biên (MVP) của mỗi tài nguyên được sử dụng với chi phí đơn vị của nó, yêu cầu doanh thu thêm được từ việc sử dụng một đơn vị tài nguyên bổ sung phải bằng với chi phí đơn vị của nó (Chukwuji và cộng sự, 2006). Các doanh nghiệp được phân bổ hiệu quả một cách hoàn hảo đang hoạt động tại thời điểm mà đường đẳng lượng và đẳng phí trong đường biên sản xuất là tiếp xúc nhau. Các nhà sản xuất tối đa hóa lợi nhuận có thể coi là phân bổ kém hiệu quả nếu họ không phân bổ đầu vào tối ưu với giá đầu vào và đầu ra đã cho (Kumbhakar and Wang, 2006).

Sự thiếu hiệu quả kinh nghiệm của nông dân là một dấu hiệu cho thấy sản lượng nông nghiệp có thể được cải thiện như thế nào thông qua phân bổ lại nguồn lực, cách tạo ra độ đo hiệu quả phân bổ là rất quan trọng. Hiệu quả phân bổ có thể được đo nếu thông tin giá đầu vào là có sẵn. Tuy nhiên Inoni (2007) tìm thấy rằng để ước lượng hiệu quả sử dụng tài nguyên, việc xác định các tham số như sản phẩm cận biên vật lý (MPP), chi phí nhân tố cận biên (MFC) và sản phẩm giá trị cận biên (MVP) là bắt buộc. Theo Cooper và cộng sự (2006), có hai kịch bản khác nhau để đo hiệu quả phân bổ.

Một là, giá và chi phí là như nhau cho các doanh nghiệp được đo hiệu quả phân bổ. Hai là, giá và chi phí cho các doanh nghiệp được đo hiệu quả phân bổ là khác nhau. Trong thực tế kinh doanh, giá và chi phí chung cho tất cả các doanh nghiệp không phải luôn luôn có giá trị, do đó nhiều thước đo của hiệu quả phân bổ được phát triển. Nó bao gồm hiệu quả lợi nhuận (PE), hiệu quả doanh thu (RE) và hiệu quả chi phí (CE).

Theo Ali and Flinn (1989), hiệu quả lợi nhuận có thể được định nghĩa như khả năng một doanh nghiệp đạt được lợi nhuận cao nhất có thể, giá và mức độ của các nhân tố cố định của doanh nghiệp là đã cho. Trong bối cảnh này, kém hiệu quả lợi nhuận được định nghĩa là sự mất lợi nhuận từ việc không hoạt động trên biên. Hiệu quả doanh thu được định nghĩa 9 là tỷ số giữa thu nhập lớn nhất có thể với một giá cho trước và thu nhập thực tế để sản xuất ở mức giá đó (Cooper và cộng sự, 2006). Maudos và cộng sự (2002) biểu diễn hiệu quả chi phí là tỷ số giữa chi phí nhỏ nhất để đạt được một khối lượng sản xuất cho trước và chi phí thực tế để sản xuất ra lượng sản phẩm đó.

Hiệu quả chi phí có thể được cải thiện nếu đầu ra được duy trì với một sự tăng đầu vào tương ứng ít hơn với thông tin về giá cho trước (Badar và cộng sự, 2008). Theo Cooper và cộng sự (2006) giá và chi phí có thể giống hoặc khác nhau từ nhà sản xuất này đến nhà sản xuất khác và khi lựa chọn một thước đo hiệu quả phân bổ, quyết định nên được chỉ dẫn bởi thông tin giá cả có sẵn. Hiệu quả lợi nhuận có thể được sử dụng như một thước đo hiệu quả phân bổ khi giá đầu vào và giá sản phẩm cho các nhà sản xuất khác nhau. Đối với các nhà sản xuất nhận được các mức giá khác nhau, trong khi phải đối mặt với cùng một giá đầu vào, hiệu quả doanh thu sẽ được sử dụng như độ đo cho hiệu quả phân bổ.

Hiệu quả chi phí cũng có thể được sử dụng để xác định hiệu quả phân bổ khi giá các nhà sản xuất trả cho đầu vào khác nhau, trong khi giá sản xuất là như nhau dọc theo mẫu. Đo lường hiệu quả phân bổ theo cách tiếp cận tham số và phi tham số “Cùng với sự phát triển của các kỹ thuật tính toán và ứng dụng của toán học trong kinh tế, đã có thêm các phương pháp để ước lượng các loại hiệu quả sản xuất nói chung và hiệu quả phân bổ nói riêng một cách chính xác hơn. Đó là cách tiếp cận tham số và cách tiếp cận phi tham số. Sự khác nhau chính của hai cách tiếp cận này là cách tiếp cận tham số chỉ định một dạng hàm đặc biệt cho hàm sản xuất hoặc hàm chi phí trong khi cách tiếp cận phi tham số thì không.” Cách tiếp cận tham số “Cách tiếp cận tham số sử dụng các kỹ thuật ước lượng khả năng tối đa để tính hàm biên trong một mẫu đã cho (Sarafidis, 2002).

Với cách tiếp cận biên, cần giả định rằng các ngành đều sử dụng một loại công nghệ và cùng đường biên sản xuất. Có ba kỹ thuật đường biên tham số chính là tiếp cận đường biên ngẫu nhiên (Stochastic Frontier Approach - SFA), tiếp cận đường biên dày (Thick Frontier Approach - TFA) và tiếp cận phân phối tự do (Distribution Free Approach - DFA). Trong đó cách tiếp cận đường biên ngẫu nhiên được sử dụng phổ biến nhất. Aigner and Chu (1968) là một trong những nghiên cứu đầu tiên đưa ra cách tiếp cận đường biên.

Với giả định một hàm sản xuất dạng Cobb – Douglas, nghiên cứu đã sử dụng phương pháp tiếp cận tham số để xác định sự đóng góp của từng nhân tố đầu vào đến quá trình sản xuất. Hàm sản xuất biên ngẫu nhiên đề cập đến nhiễu ngẫu nhiên và cho phép kiểm định thống kê các giả thuyết liên quan đến cấu trúc sản xuất và mức 10 độ phi hiệu quả (Sharma và cộng sự, 1999). Tuy nhiên điểm yếu chính của cách tiếp cận này là nó yêu cầu áp đặt một dạng tham số rõ ràng cho công nghệ cơ bản và giả định phân phối rõ ràng cho số hạng không hiệu quả (Chavas and Aliber, 1993). Luận án sẽ điểm qua một số bài báo sử dụng phương pháp này.” Badunenko và cộng sự (2008) đã sử dụng số liệu của 900 doanh nghiệp ngành hóa chất của Đức năm 2003 để đo lường các loại hiệu quả theo phương pháp hàm sản xuất biên ngẫu nhiên, không cần giá đầu vào.

Kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng có một mức độ tương đối thấp của hiệu quả chi phí. Hiệu quả kỹ thuật kém là nguyên nhân chính của các điều quan sát được sau đây. Các doanh nghiệp nhỏ hơn lại hoạt động hiệu quả hơn các doanh nghiệp lớn và các doanh nghiệp hóa chất của Đức về trung bình là kém về hiệu quả phân bổ, tức là không lựa chọn một sự kết hợp tối ưu các đầu vào. Với dữ liệu bảng không cân bằng của 5000 doanh nghiệp trong 15 ngành hoạt động của Bờ Biển Ngà từ năm 2000 đến năm 2010, Ouattara (2012) cũng sử dụng phương pháp hàm sản xuất biên ngẫu nhiên để đo lường hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ và hiệu quả kinh tế của 15 ngành kinh tế của quốc gia này và sử dụng mô hình Tobit để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến từng loại hiệu quả.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Hiệu quả phân bổ và mô hình đánh giá tác động nhân tố trong doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam" tập trung vào việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả phân bổ nguồn lực trong các doanh nghiệp công nghiệp tại Việt Nam. Nó cung cấp một mô hình đánh giá chi tiết, giúp doanh nghiệp nhận diện và tối ưu hóa các nhân tố then chốt để nâng cao hiệu suất hoạt động. Độc giả sẽ thu được những hiểu biết sâu sắc về cách thức quản lý nguồn lực hiệu quả, từ đó áp dụng vào thực tiễn để cải thiện kết quả kinh doanh.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến quản lý và phân tích hiệu quả, có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ luật học quản trị tốt trong lĩnh vực hộ tịch từ thực tiễn tỉnh hà nam, Luận văn thạc sĩ nghiên cứu bộ ba bất khả thi ở việt nam giai đoạn 2011 2012, và Luận văn thạc sĩ phương pháp phân cụm tài liệu web và áp dụng vào máy tìm kiếm. Những tài liệu này sẽ mở rộng góc nhìn của bạn về các phương pháp quản lý và phân tích hiệu quả trong các lĩnh vực khác nhau.