chương 1, luận án trình bày tổng quan nghiên cứu về hiệu quả phân bổ. Trong đó tập trung vào hai nội dung chính là tổng quan nghiên cứu về các thước đo hiệu quả phân bổ và tổng quan nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả phân bổ. Từ đó luận án rút ra được khoảng trống nghiên cứu. Tổng quan nghiên cứu về các thước đo hiệu quả phân bổ Trong các nghiên cứu về hiệu quả phân bổ, thường chỉ tập trung vào xem xét hiệu quả phân bổ của doanh nghiệp nếu muốn xem xét việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, hoặc tập trung vào hiệu quả phân bổ theo ngành - vùng nếu muốn có khuyến nghị chính sách về giảm phân bổ sai.
Như vậy cùng là hiệu quả phân bổ nhưng quan niệm về mỗi loại hiệu quả phân bổ rất khác nhau, vì vậy cách tiếp cận để ước lượng cũng khác nhau. Luận án sẽ trình bày tổng quan các nghiên cứu nước ngoài và tổng quan các nghiên cứu trong nước. Các nghiên cứu nước ngoài 1. Phương pháp đo lường hiệu quả phân bổ của doanh nghiệp “Phép đo hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp được xuất phát từ một bài báo của Farrell (1957), trong đó sử dụng khái niệm hiệu quả được công nhận bởi Koopmans (1951) và thước đo hiệu quả xuyên tâm được xem xét bởi Debreu (1951) để giới thiệu nền tảng cho phân tích hiệu quả có tính đến nhiều yếu tố đầu vào.
Ông phân biệt giữa hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ. Nếu một doanh nghiệp đạt cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ thì nó sẽ đạt hiệu quả chi phí (CE) hay hiệu quả tổng thể, một số tài liệu gọi là hiệu quả kinh tế - EE (Coelli và cộng sự, 2005). Khi mà quá trình sản xuất ở các doanh nghiệp trở nên đạt hiệu quả kỹ thuật, vấn đề về hiệu quả phân bổ sẽ phát sinh (Chukwuji và cộng sự, 2006). Cũng có rất nhiều thước đo khác nhau về hiệu quả phân bổ của doanh nghiệp.
Luận án sẽ xem xét các thước đo hiệu quả phân bổ từ đơn giản đến phức tạp. Đo lường hiệu quả phân bổ của doanh nghiệp theo các cách tiếp cận đơn giản “Hiệu quả phân bổ có thể được diễn tả như một độ đo khả năng doanh nghiệp sử dụng các yếu tố sản xuất trong sự kết hợp tốt nhất được cho là yếu tố giá cả, mà có thể gọi là hiệu quả giá của sản xuất (Farrell and PEARsoN, 1957). Hiệu quả phân bổ có thể được định nghĩa như tỷ số của tổng chi phí sản xuất một đơn vị của một đầu ra với tổng 8 chi phí của việc sản xuất đơn vị đầu ra giống như thế, trong khi sử dụng tối ưu các cách kết hợp các nhân tố đạt hiệu quả kỹ thuật (Chukwuji và cộng sự, 2006).”Một doanh nghiệp được cho là phân bổ hiệu quả nếu tỷ lệ của sản phẩm cận biên (𝑀𝑃𝑋 ) giữa tất cả 𝑀𝑃𝑋𝑖 𝑃𝑖 các đầu vào bằng tỷ lệ giá đầu vào, hay = và do đó khả năng doanh nghiệp sản 𝑀𝑃𝑋𝑙 𝑃𝑙 xuất với tỷ lệ thay thế cận biên của kỹ thuật giữa hai đầu vào bất kỳ trong số các đầu vào của nó là bằng tỷ lệ giá đầu vào tương ứng (Ajibefun and Daramola, 2003). Theo Omonona và cộng sự (2010), phân bổ hiệu quả là một điều kiện để tối đa hóa lợi nhuận.
Bằng cách xem xét chi phí đầu vào trong mối quan hệ với doanh thu dự kiến được tạo nên từ các đầu vào, phương pháp cho chi phí thấp nhất sẽ là hiệu quả nhất (Chukwuji và cộng sự, 2006). Điều kiện tối đa hóa lợi nhuận ở một thị trường cạnh tranh hoàn hảo là một doanh nghiệp phải có khả năng cân bằng sản phẩm giá trị cận biên (MVP) của mỗi tài nguyên được sử dụng với chi phí đơn vị của nó, yêu cầu doanh thu thêm được từ việc sử dụng một đơn vị tài nguyên bổ sung phải bằng với chi phí đơn vị của nó (Chukwuji và cộng sự, 2006). Các doanh nghiệp được phân bổ hiệu quả một cách hoàn hảo đang hoạt động tại thời điểm mà đường đẳng lượng và đẳng phí trong đường biên sản xuất là tiếp xúc nhau. Các nhà sản xuất tối đa hóa lợi nhuận có thể coi là phân bổ kém hiệu quả nếu họ không phân bổ đầu vào tối ưu với giá đầu vào và đầu ra đã cho (Kumbhakar and Wang, 2006).
Sự thiếu hiệu quả kinh nghiệm của nông dân là một dấu hiệu cho thấy sản lượng nông nghiệp có thể được cải thiện như thế nào thông qua phân bổ lại nguồn lực, cách tạo ra độ đo hiệu quả phân bổ là rất quan trọng. Hiệu quả phân bổ có thể được đo nếu thông tin giá đầu vào là có sẵn. Tuy nhiên Inoni (2007) tìm thấy rằng để ước lượng hiệu quả sử dụng tài nguyên, việc xác định các tham số như sản phẩm cận biên vật lý (MPP), chi phí nhân tố cận biên (MFC) và sản phẩm giá trị cận biên (MVP) là bắt buộc. Theo Cooper và cộng sự (2006), có hai kịch bản khác nhau để đo hiệu quả phân bổ.
Một là, giá và chi phí là như nhau cho các doanh nghiệp được đo hiệu quả phân bổ. Hai là, giá và chi phí cho các doanh nghiệp được đo hiệu quả phân bổ là khác nhau. Trong thực tế kinh doanh, giá và chi phí chung cho tất cả các doanh nghiệp không phải luôn luôn có giá trị, do đó nhiều thước đo của hiệu quả phân bổ được phát triển. Nó bao gồm hiệu quả lợi nhuận (PE), hiệu quả doanh thu (RE) và hiệu quả chi phí (CE).
Theo Ali and Flinn (1989), hiệu quả lợi nhuận có thể được định nghĩa như khả năng một doanh nghiệp đạt được lợi nhuận cao nhất có thể, giá và mức độ của các nhân tố cố định của doanh nghiệp là đã cho. Trong bối cảnh này, kém hiệu quả lợi nhuận được định nghĩa là sự mất lợi nhuận từ việc không hoạt động trên biên. Hiệu quả doanh thu được định nghĩa 9 là tỷ số giữa thu nhập lớn nhất có thể với một giá cho trước và thu nhập thực tế để sản xuất ở mức giá đó (Cooper và cộng sự, 2006). Maudos và cộng sự (2002) biểu diễn hiệu quả chi phí là tỷ số giữa chi phí nhỏ nhất để đạt được một khối lượng sản xuất cho trước và chi phí thực tế để sản xuất ra lượng sản phẩm đó.
Hiệu quả chi phí có thể được cải thiện nếu đầu ra được duy trì với một sự tăng đầu vào tương ứng ít hơn với thông tin về giá cho trước (Badar và cộng sự, 2008). Theo Cooper và cộng sự (2006) giá và chi phí có thể giống hoặc khác nhau từ nhà sản xuất này đến nhà sản xuất khác và khi lựa chọn một thước đo hiệu quả phân bổ, quyết định nên được chỉ dẫn bởi thông tin giá cả có sẵn. Hiệu quả lợi nhuận có thể được sử dụng như một thước đo hiệu quả phân bổ khi giá đầu vào và giá sản phẩm cho các nhà sản xuất khác nhau. Đối với các nhà sản xuất nhận được các mức giá khác nhau, trong khi phải đối mặt với cùng một giá đầu vào, hiệu quả doanh thu sẽ được sử dụng như độ đo cho hiệu quả phân bổ.
Hiệu quả chi phí cũng có thể được sử dụng để xác định hiệu quả phân bổ khi giá các nhà sản xuất trả cho đầu vào khác nhau, trong khi giá sản xuất là như nhau dọc theo mẫu. Đo lường hiệu quả phân bổ theo cách tiếp cận tham số và phi tham số “Cùng với sự phát triển của các kỹ thuật tính toán và ứng dụng của toán học trong kinh tế, đã có thêm các phương pháp để ước lượng các loại hiệu quả sản xuất nói chung và hiệu quả phân bổ nói riêng một cách chính xác hơn. Đó là cách tiếp cận tham số và cách tiếp cận phi tham số. Sự khác nhau chính của hai cách tiếp cận này là cách tiếp cận tham số chỉ định một dạng hàm đặc biệt cho hàm sản xuất hoặc hàm chi phí trong khi cách tiếp cận phi tham số thì không.” Cách tiếp cận tham số “Cách tiếp cận tham số sử dụng các kỹ thuật ước lượng khả năng tối đa để tính hàm biên trong một mẫu đã cho (Sarafidis, 2002).
Với cách tiếp cận biên, cần giả định rằng các ngành đều sử dụng một loại công nghệ và cùng đường biên sản xuất. Có ba kỹ thuật đường biên tham số chính là tiếp cận đường biên ngẫu nhiên (Stochastic Frontier Approach - SFA), tiếp cận đường biên dày (Thick Frontier Approach - TFA) và tiếp cận phân phối tự do (Distribution Free Approach - DFA). Trong đó cách tiếp cận đường biên ngẫu nhiên được sử dụng phổ biến nhất. Aigner and Chu (1968) là một trong những nghiên cứu đầu tiên đưa ra cách tiếp cận đường biên.
Với giả định một hàm sản xuất dạng Cobb – Douglas, nghiên cứu đã sử dụng phương pháp tiếp cận tham số để xác định sự đóng góp của từng nhân tố đầu vào đến quá trình sản xuất. Hàm sản xuất biên ngẫu nhiên đề cập đến nhiễu ngẫu nhiên và cho phép kiểm định thống kê các giả thuyết liên quan đến cấu trúc sản xuất và mức 10 độ phi hiệu quả (Sharma và cộng sự, 1999). Tuy nhiên điểm yếu chính của cách tiếp cận này là nó yêu cầu áp đặt một dạng tham số rõ ràng cho công nghệ cơ bản và giả định phân phối rõ ràng cho số hạng không hiệu quả (Chavas and Aliber, 1993). Luận án sẽ điểm qua một số bài báo sử dụng phương pháp này.” Badunenko và cộng sự (2008) đã sử dụng số liệu của 900 doanh nghiệp ngành hóa chất của Đức năm 2003 để đo lường các loại hiệu quả theo phương pháp hàm sản xuất biên ngẫu nhiên, không cần giá đầu vào.
Kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng có một mức độ tương đối thấp của hiệu quả chi phí. Hiệu quả kỹ thuật kém là nguyên nhân chính của các điều quan sát được sau đây. Các doanh nghiệp nhỏ hơn lại hoạt động hiệu quả hơn các doanh nghiệp lớn và các doanh nghiệp hóa chất của Đức về trung bình là kém về hiệu quả phân bổ, tức là không lựa chọn một sự kết hợp tối ưu các đầu vào. Với dữ liệu bảng không cân bằng của 5000 doanh nghiệp trong 15 ngành hoạt động của Bờ Biển Ngà từ năm 2000 đến năm 2010, Ouattara (2012) cũng sử dụng phương pháp hàm sản xuất biên ngẫu nhiên để đo lường hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ và hiệu quả kinh tế của 15 ngành kinh tế của quốc gia này và sử dụng mô hình Tobit để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến từng loại hiệu quả.