Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ 1. Tổng quan về bảo hiểm phi nhân thọ 1. Khái niệm về bảo hiểm và bảo hiểm phi nhân thọ 1. Khái niệm về bảo hiểm Mặc dù bảo hiểm ra đời từ lâu, song cho đến nay vẫn có nhiều quan niệm khác nhau về bảo hiểm.
Sự khác nhau đó xuất phát từ việc nhìn nhận bảo hiểm ở các góc độ và cách thức tiếp cận khác nhau. Tựu chung lại, khái niệm bảo hiểm có thể được nhìn nhận dưới 2 phương diện: kinh tế và tài chính. Về phương diện kinh tế, bảo hiểm là biện pháp chuyển giao rủi ro được thực hiện thông qua hợp đồng bảo hiểm, trong đó bên mua bảo hiểm chấp nhận trả phí bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm cam kết bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Về phương diện tài chính, bảo hiểm chính là sự vận động các nguồn lực tài chính trong việc huy động sự đóng góp (phí bảo hiểm) của các tổ chức kinh tế và cá nhân tham gia bảo hiểm (mua bảo hiểm) để lập quỹ bảo hiểm và phân phối, sử dụng nó bồi thường những tổn thất vật chất, chi trả cho tai nạn bất ngờ xảy ra đối với các đối tượng bảo hiểm [9].
Từ khái niệm bảo hiểm, nhằm hiểu rõ hơn khái niệm này cũng như hoạt động kinh doanh của các công ty bảo hiểm sau đây sẽ trình bày những thuật ngữ cơ bản trong bảo hiểm được quy định trong Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2022 ban hành vào ngày 16/06/2022: - Kinh doanh bảo hiểm: là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh 9 nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. - Hợp đồng bảo hiểm: là hợp đồng được ký kết giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm. Hợp đồng bảo hiểm được cấu thành từ nhiều bộ phận, tuỳ thuộc vào từng nghiệp vụ bảo hiểm hoặc từng sản phẩm bảo hiểm. Các tài liệu của hợp đồng bảo hiểm có nhiều loại như: Giấy yêu cầu bảo hiểm, Quy tắc bảo hiểm, Đơn bảo hiểm, Điều kiện bảo hiểm, Điều khoản bổ sung, Phụ lục hợp đồng, Giấy chứng nhận bảo hiểm,… - Doanh nghiệp bảo hiểm: là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm.
- Bên mua bảo hiểm: là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm có thể đồng thời là người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng. - Người được bảo hiểm: là tổ chức, cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự, tính mạng được bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm. Người được bảo hiểm có thể đồng thời là người thụ hưởng.
- Người thụ hưởng: là tổ chức, cá nhân được bên mua bảo hiểm chỉ định để nhận tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm con người. - Đối tượng bảo hiểm: là những đối tượng chịu tác động trực tiếp của rủi ro và vì thế, khiến quyền lợi được bảo vệ bởi hợp đồng bảo hiểm bị tổn hại. Mỗi hợp đồng bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm riêng và được xác định cụ thể bởi điều khoản đối tượng bảo hiểm. Tuy nhiên có thể chia các đối tượng bảo hiểm thành 3 loại: Tài sản và những lợi ích liên quan; Con người (tính mạng, sức khoẻ, tuổi thọ,… của con người); Trách nhiệm dân sự.
- Sự kiện bảo hiểm: là sự kiện khách quan do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định mà khi sự kiện đó xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm phải 10 trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm. - Phí bảo hiểm: là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải đóng cho doanh nghiệp bảo hiểm theo thời hạn và phương thức do các bên thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Khái niệm về bảo hiểm phi nhân thọ Từ việc xác định khái niệm bảo hiểm, cách phân loại bảo hiểm cũng thu hút nhiều sự quan tâm. Trong đó, bảo hiểm có thể được phân loại dựa trên đối tượng được bảo hiểm; hình thức bảo hiểm; kỹ thuật quản lý hợp đồng bảo hiểm.
Tuy nhiên, về mặt pháp luật kinh doanh bảo hiểm thì bảo hiểm bao gồm bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe và các nghiệp vụ bảo hiểm khác do chính phủ quy định. Cụ thể, theo Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2019, bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ được hiểu như sau: - Bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết. Bảo hiểm nhân thọ bao gồm: + Bảo hiểm trọn đời; + Bảo hiểm sinh kỳ; + Bảo hiểm tử kỳ; + Bảo hiểm hỗn hợp; + Bảo hiểm trả tiền định kỳ; + Bảo hiểm liên kết đầu tư; + Bảo hiểm hưu trí. - Bảo hiểm phi nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ.
Bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm: + Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại; 11 + Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường bộ, đường biển, đường thủy nội địa, đường sắt và đường hàng không; + Bảo hiểm hàng không; + Bảo hiểm xe cơ giới; + Bảo hiểm cháy, nổ; + Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu; + Bảo hiểm trách nhiệm; + Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính; + Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh; + Bảo hiểm nông nghiệp. Vai trò của bảo hiểm phi nhân thọ Là một loại hình bảo hiểm nên bảo hiểm phi nhân thọ có vai trò to lớn trong đời sống kinh tế - xã hội của loài người. Cụ thể, vai trò bảo hiểm phi nhân thọ được thể hiện ở những mặt sau: - Phân tán rủi ro: Quỹ bảo hiểm được hình thành từ phí bảo hiểm do những người tham gia bảo hiểm đóng góp, được sử dụng để bồi thường, chi trả quyền lợi cho một số người có tài sản không may mắn gặp rủi ro, tổn thất. Nhờ vậy những rủi ro tổn thất này sẽ chỉ có một người phải gánh chịu hay được chia sẻ, phân tán cho số đông người tham gia bảo hiểm.
- Đề phòng hạn chế tổn thất: Kinh doanh bảo hiểm là kinh doanh rủi ro, các doanh nghiệp bảo hiểm sẵn sàng chấp nhận đền bù mọi chi phí khi người được bảo hiểm gặp rủi ro. Tuy nhiên không ai mong muốn rủi ro xảy ra kể cả người được bảo hiểm và công ty bảo hiểm. Làm thế nào để giảm được nguy cơ xuất hiện rủi ro, tổn thất? Trên thực tế, thông qua công tác giám định, xử lý tai nạn và giải quyết bồi thường, doanh nghiệp bảo hiểm có thể phân tích được đâu là những nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn, qua đó đề ra biện pháp 12 đề phòng hạn chế tổn thất, bảo vệ an toàn cho người được bảo hiểm. Đây là lợi ích rất lớn mà bảo hiểm mang lại cho xã hội.
- Ổn định đời sống, sản xuất kinh doanh của người tham gia bảo hiểm: Khi tổn thất xảy ra, toàn bộ đời sống, hoạt động sản xuất kinh doanh của những người không may gặp rủi ro bị đảo lộn vì họ phải bỏ ra một khoản chi phí không nhỏ để khắc phục hậu quả, nhiều khi chi phí này có thể vượt quá khả năng tài chính của họ. Đây là tình huống mà bất kỳ ai cũng không muốn xảy ra với mình, tuy nhiên không ai có thể lường trước được những rủi ro và hậu quả của nó. Nhưng nếu tham gia bảo hiểm, người được bảo hiểm chỉ phải đóng cho công ty bảo hiểm một khoản phí rất nhỏ so với số tiền mà họ nhận được khi có tổn thất xảy ra, với số tiền này họ có thể nhanh chóng ổn định được đời sống, sản xuất kinh doanh của mình. - Tạo ra sự an tâm về mặt tinh thần cho người tham gia bảo hiểm: Bất kỳ ai cũng mong muốn bản thân, gia đình và doanh nghiệp của mình không rơi vào tình trạng thiệt hại khi gặp rủi ro, do vậy họ tham gia bảo hiểm.
Khi tham gia bảo hiểm họ đã chuyển mọi rủi ro thường trực đe dọa xung quanh tài sản của mình cho các công ty bảo hiểm, nhờ đó, tạo sự an tâm tập trung vào việc phát triển sản xuất kinh doanh. - Thúc đẩy phát triển kinh tế quốc gia: Do đặc trưng của ngành bảo hiểm là tại thời điểm ký kết hợp đồng bảo hiểm người được bảo hiểm bắt buộc phải thanh toán phí bảo hiểm. Nếu trong thời hạn của hợp đồng người được bảo hiểm không may gặp rủi ro họ sẽ nhận được số tiền bồi thường từ công ty bảo hiểm. Trong thời gian thu phí đến khi thanh toán bồi thường (nếu có tổn thất xảy ra) số phí bảo hiểm này có một thời gian nhàn rỗi, vì vậy các công ty bảo hiểm sử dụng nó để đầu tư trở lại cho nền kinh tế quốc dân như mua trái phiếu, gửi ngân hàng, đầu tư kinh doanh vào sản xuất, bất động sản.
13 - Tạo công ăn việc làm cho người lao động: Các doanh nghiệp bảo hiểm ra đời và phát triển đã thu hút được một lực lượng lao động đông đảo tham gia vào các vị trí: Nhân viên văn phòng, đại lý, cộng tác viên.với mức thu nhập khá hấp dẫn. - Góp phần đẩy mạnh quá trình hội nhập: Bảo hiểm góp phần mở rộng các mối quan hệ kinh tế với nước ngoài. Điều này được thể hiện chủ yếu thông qua hoạt động tái bảo hiểm hoặc đồng bảo hiểm giữa các doanh nghiệp bảo hiểm của các nước với nhau [9]. Các nguyên tắc cơ bản trong kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ - Nguyên tắc số đông: Trong kinh doanh bảo hiểm nói chung và kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng, các doanh nghiệp bảo hiểm nhận một khoản tiền (phí bảo hiểm) từ phía người có nhu cầu mua bảo hiểm, sau đó doanh nghiệp bảo hiểm sẽ phải trả cho đối tượng được bảo hiểm một số tiền lớn hơn gấp nhiều lần phí bảo hiểm một khi rủi ro xảy ra.
Để làm được điều này hoạt động bảo hiểm phải dựa trên nguyên tắc số đông.