PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể sau hơn ba thập kỷ đổi mới. Thay đổi từ nước có nền kinh tế lạc hậu, kém phát triển trở thành nước đang phát triển và xếp vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình, đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế, với tốc độ tăng trưởng trung bình 6,30%/năm trong giai đoạn 2011-2019 (Nguồn tổng cục thống kê). Đạt được những thành tựu đó chắc hẳn nhờ vào sự gia tăng quy mô ĐTC, tạo động lực quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng và quá trình chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế thời gian qua.
Những năm qua, ĐTC mang lại nhiều kết quả tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội đất nước, kết quả nghiên cứu của (Thư & Phong, 2014), (Luật, Cường, & Tùng, 2020) cho thấy rằng ĐTC có tác động thúc đẩy tăng trưởng trong dài hạn. Hiệu ứng tích cực của ĐTC đã mang lại những thành quả to lớn, tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao, nâng cao mức sống của người dân, ổn định kinh tế vĩ mô và đóng góp đáng kể vào lĩnh vực xóa đói giảm nghèo. Theo báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp về thực hiện nhiệm vụ 5 năm giai đoạn 2016 – 2021 thì “trong những năm vừa qua, nền kinh tế của Đồng Tháp đã đạt nhiều bước phát triển đáng kể. Kết quả của công cuộc đổi mới đã nâng cao thu nhập, chất lượng đời sống của người dân, cải thiện bộ mặt chung của cả xã hội.
Để đạt được những thành tựu này, bên cạnh kết quả sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế còn có phần đóng góp rất lớn từ các chính sách điều hành của chính quyền tỉnh thông qua các họat động quản lý nhà nước của các cơ quan hành chính, hoạt động đầu tư bằng vốn ngân sách vào các lĩnh vực phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội. Trong những chính sách điều hành này, ĐTC chiếm vai trò vô cùng quan trọng vì đây là công cụ khắc phục các hạn chế của nền kinh tế thị trường, là đòn bẩy kinh tế, tạo điều kiện cho đầu tư từ các khu vực còn lại phát huy hiệu quả cao thông qua việc xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, đồng thời còn giúp phát triển các mặt về xã hội mà các thành phần kinh tế khác thường ít khi tham gia vào”. Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được thì tỉnh Đồng Tháp nói riêng đang đối mặt với một số thách 1 thức, khó khăn như: cơ sở hạ tầng chưa đủ đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế, sức ép cạnh tranh của các nước khi mở cửa nền kinh tế, trình độ phát triển kinh tế - xã hội nói chung còn thấp, đại dịch Covid-19 đang hoành hành. Muốn vượt qua được những thách thức này, tỉnh cần phải cải cách mạnh mẽ hơn nữa chất lượng quản lý nhà nước nói chung và hiệu quả quản lý ĐTC nói riêng.
Đây là lý do tác giả lựa chọn và nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiệu quả vốn đầu tư công trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp” trong luận văn tốt nghiệp. Các công trình nghiên cứu có liên quan 2. Công trình nghiên cứu trong nước Một số nghiên cứu đã sử dụng chỉ số ICOR để đánh giá hiệu quả ĐTC ở Việt Nam, như: nghiên cứu “Đổi mới ĐTC ở Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020” của tác giả Vũ Như Thăng [11] chỉ ra rằng: “hệ số ICOR của ĐTC tại Việt Nam có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây. Nếu hệ số ICOR của giai đoạn 1996 - 2000 tính theo giá hiện hành là 4,7 thì sang giai đoạn 2001 - 2005 hệ số này trung bình là 5,1 và giai đoạn 2006 - 2010 tăng lên 6,1” Một số ít nghiên cứu sử dụng các phương pháp định lượng để đánh giá hiệu quả ĐTC như nghiên cứu của Thành (2011) “ĐTC lấn át đầu tư tư nhân? Góc nhìn từ mô hình thực nghiệm VECM.
Trong nghiên cứu này, tác giả đã đánh giá ĐTC trên phương diện phân tích liệu ĐTC “lấn át” hay “hỗ trợ” đầu tư tư nhân ở Việt Nam qua việc sử dụng mô hình VECM và các hàm phản ứng của ba biến số (ở dạng logarit) là đầu tư khu vực nhà nước (GI), đầu tư khu vực tư nhân (PI) và GDP (Y). Các biến số này được thu thập từ năm 1986 - 2010 (25 năm) từ nguồn Tổng cục thống kê, tính theo giá so sánh 1994. Kết quả thực nghiệm cho thấy: hiện tượng ĐTC “lấn át” đầu tư tư nhân thể hiện rõ nét. Kết quả ước lượng cho thấy ĐTC có hiệu ứng tích cực đối với tăng trưởng GDP, tức là sự gia tăng vốn đầu tư có tác động làm tăng GDP.
Tuy nhiên, tác động của ĐTC đến GDP là rất thấp so với tác động của đầu tư tư nhân (1% tăng lên của đầu tư tư nhân có thể đóng góp 0,33% tăng trưởng, trong khi ĐTC chỉ đóng góp 0,23% tăng trưởng trong dài hạn). Đặc biệt, nghiên cứu cũng chỉ ra sự tăng thêm 1% của ĐTC sẽ khiến đầu tư tư nhân thu hẹp 0,48% sau một thập kỷ. Điều này hàm ý rõ nét hiệu quả của khu vực đầu tư tư nhân cao hơn khu vực công trong việc 2 tăng sản lượng chung của nền kinh tế hơn, ĐTC chỉ mang tính chất hỗ trợ, không nên nhằm mục đích kinh doanh”. Luận án Tiến sĩ “Nâng cao hiệu quả ĐTC tại Việt Nam của tác giả Phạm Minh Hóa (2017) đã đánh giá hiệu quả ĐTC tại Việt Nam giai đoạn 2000 - 2014, từ đó đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả ĐTC ở Việt Nam.
Trong phạm vi của luận án, hiệu quả ĐTC được xem xét trên phạm vị tổng thể nền kinh tế (góc độ vĩ mô) gắn với mục tiêu của ĐTC là tăng trưởng kinh tế (hiệu quả kinh tế), giảm nghèo (hiệu quả xã hội) và đánh giá trên cơ sở hệ thống các tiêu chí phù hợp”. Theo Chi, Nhường, Dung, Hương, and Lâm (2013) “Hiệu quả ĐTC: nhìn từ tác động của nó đến tăng trưởng kinh tế” cho rằng: “ĐTC ở Việt Nam có tác động đến GDP trong ngắn hạn hơn là trong dài hạn và không có tác động rõ nét trong thúc đẩy đầu tư tư nhân” Luận án Tiến sĩ của Bùi Mạnh Cường (2012): “đã hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động đầu tư phát triển từ nguồn vốn NSNN một cách đầy đủ, rõ ràng, cụ thể. Tổng hợp, làm rõ cơ sở lý luận về hiệu quả đầu tư phát triển từ nguồn vốn NSNN; Phân tích, đánh giá, nhận xét để xây dựng cơ sở thực tiễn về đầu tư phát triển từ nguồn vốn NSNN; Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá và phương pháp đánh giá hiệu quả đầu tư phát triển từ nguồn vốn NSNN toàn diện cả về định tính, định lượng, với tầm mức đánh giá cả về vi mô và vĩ mô trong nền kinh tế chuyển đổi. Trên cơ sở hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư phát triển từ nguồn vốn NSNN đã được xây dựng, áp dụng để phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động đầu tư phát triển từ nguồn vốn NSNN ở Việt Nam từ năm 2005 - 2010, chỉ ra nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả đầu tư phát triển từ nguồn vốn NSNN của Việt Nam.
Đề xuất hệ thống các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư phát triển từ nguồn vốn NSNN ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 trong điều kiện của nền kinh tế chuyển đổi và hội nhập quốc tế với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Một số nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu của nhóm tác giả Rajaram, Le, Biletska, and Brumby (2010): “cung cấp một phương pháp chẩn đoán thực tế và khách quan để đánh giá các hệ thống quản lý ĐTC cho các chính phủ. Các tác giả đã cung cấp một chu trình có hệ 3 thống quản trị ĐTC, chỉ ra những rủi ro tài chính, đồng thời phát triển một khung chuẩn để đánh giá từng giai đoạn trong chu trình quản trị ĐTC. Nghiên cứu đã chỉ ra: một hệ thống ĐTC tốt sẽ có 8 đặc trưng cơ bản: (1) hướng dẫn đầu tư, phát triển dự án, và sàng lọc sơ bộ; (2) thẩm định dự án chính thức; (3) đánh giá độc lập của thẩm định; (4) lựa chọn và dự toán ngân sách dự án; (5) thực hiện dự án; (6) điều chỉnh dự án; (7) hoạt động cơ sở; (8) đánh giá dự án” Nghiên cứu “Investting in public Investment, An index of public Investment Effeciency” Khảo sát ĐTC, một tiêu chí của hiệu quả đầu tư (Dabla-Norris, Brumby, Kyobe, Mills, & Papageorgiou, 2012), đã “đề cập tới cách đánh giá hiệu quả ĐTC có thể áp dụng ở phạm vi quốc gia.
Các tác giả đã đề xuất một số chỉ số mới để đánh giá hiệu quả ĐTC xuyên suốt quá trình quản lý ĐTC qua bốn giai đoạn: thẩm định dự án, lựa chọn dự án, thực hiện đầu tư và đánh giá đầu tư. Các tác giả đã tiến hành khảo sát ở 71 quốc gia với 40 quốc gia có thu nhập thấp và 31 quốc gia có thu nhập trung bình, đặc biệt tập trung ở những quốc gia đã và đang có nhiều nỗ lực cải cách trong ĐTC. Kết quả cho thấy các chỉ số này có thể áp dụng để đánh giá chính sách ĐTC và so sánh giữa các quốc gia có điều kiện tương đồng và rất thích hợp với các quốc gia quan tâm đến cải cách và nâng cao hiệu quả ĐTC. Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ cho phép ứng dụng khảo sát và đánh giá trên phạm vi quốc gia,”còn trong phạm vi ĐTC ở địa phương thì không đủ điều kiện để đánh giá một cách đầy đủ” Nghiên cứu trường hợp của Trung Quốc, Fan, Zhang, and Zhang (2002) tiến hành phân tích hiệu ứng của chi tiêu công cho giáo dục nông thôn, viễn thông, thủy lợi, điện, nghiên cứu R & D trong nông nghiệp và giao thông nông thôn đối với đói nghèo ở Trung Quốc cho thấy chi tiêu công cho giáo dục có ảnh hưởng lớn nhất đối với đói nghèo, sau đó là nghiên cứu R & D và chi tiêu phát triển giao thông nông thôn.
Ngoài ra, khi nghiên cứu các yếu tố quyết định giảm tỷ lệ nghèo đói ở Ấn Độ trong giai đoạn 1960 - 1994, Ravallion and Datt (2002) chứng minh rằng chi tiêu của chính phủ có ảnh hưởng lớn và có ý nghĩa thống kê về xóa đói giảm nghèo.